chương 1, về cơ bản, cơ thế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường, cha mẹ học sinh, học sinh có rất nhiều kênh thông tin. Kênh thông in từ nhà trường tới cha mẹ học sinh và ngược lại. Kênh thông tin từ nhà trường tới học sinh, từ học sinh tới nhà trường thông qua cha mẹ, qua thầy cô giáo. Thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường, cha mẹ học sinh, học sinh thông qua nhiều kênh: Qua gặp trực tiếp thông qua các cuộc họp, gặp gỡ hàng ngày; qua điện thoại, tin nhắn, qua mạng xã hội: zalo, Faebook,.
Thông tin sẽ được hiểu là những gì đem lại cho mọi người sự hiểu biết về người khác, về đối tượng, hiện tượng nào đó trong tự nhiên và xã hội, hay về vấn đề khách quan, chủ quan nào đó, một sự kiện chuẩn bị được diễn ra… để từ đó con người đưa ra những quyết định phù hợp cho từng hoàn cảnh cụ thể nhằm thu được kết quả tốt nhất theo hướng họ mong muốn. Thông tin có thể là lời nói, là những gì người ta dù không thể cầm nắm, sờ, mó tới nó, nhưng có thể kiểm chứng được nó qua những ghi chép, ghi âm, tổng kết… bằng văn bản chính thống hoặc chưa chính thông. Tóm lại, thông tin là những gì giúp cho con người hiểu rõ hơn, chi tiết hơn, nhanh hơn về sự vật hiện tượng nào đó mà họ quan tâm. + Với quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học: Các nội dung được trao đổi giữa môi trường với hệ thống để làm hoạt đọng hệ thống đó có thể được hiểu là thông tin của quan điểm tiếp cận hệ thống và điều khiển học.
+ Quan điểm của khoa học quản lý: Những tín hiệu mà người nghe thu nhận được, sau đó, nó được đánh giá và sử dụng cho việc ra các quyết định trong quản lý được hiểu là thông tin, theo quan điểm của khoa học quản lý. 13 Như vậy, ta có thể thấy rằng, từ những quan niệm trên thì khái niệm thông tin không áp dụng đối với thế giới vô cơ. Trong hệ thống kỹ thuật thì chúng được áp dụng nhiều, và khái niệm thông tin được tồn tại, bởi, thông tin trong hệ thống kỹ thuật được tự động hóa hoàn toàn và nó gắn với hoạt động quản lý của con người. Nó hoạt động theo các chương trình do con người lập trình ra.
Thông tin là ý thức, không phải là vật chất. Vật chất là cái gì đó có thể cầm, nắm, nhưng ý thức thì không thể, và thông tin cũng như vậy. Người ta có thể kiểm chứng sự đúng sai của thông tin, chứ không thể cân đo đong đêm thông tin nặng nhẹ như thế nào. - Giáo dục học sinh, rèn giũa, bồi dưỡng cho học sinh phát triển từng ngày là việc không chỉ ngành giáo dục cần phải làm mà đó là công việc của toàn xã hội.
Việc kết hợp giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và học sinh thông qua hệ thông thông tin quản lý sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh trong và ngoài xã hội. Trong quá trình hội nhập và phát triển đất nước, Việt Nam ngày càng cần nhiều nhân tài cho xã hội, chính vì thế, học sinh ở cấp bậc tiểu học như trang giấy trắng, vai trò của nhà trường, cha mẹ học sinh vô cùng quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước sau này. Nhà trường, thầy cô giáo luôn có những định hướng trong sự nghiệp giáo dục cho trẻ. Bên cạnh đó, gia đình luôn đồng hành cùng thầy cô trên bước đường giáo dục con em mình.
Việc sử dụng công nghệ thông tin và quản lý thông tin trong nhà trường, gia đình là điều cần thiết. Các thông tin cần được cập nhật thường 14 xuyên, nhanh chóng, chính xác sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc tạo nên các tế bào tốt cho xã hội. 15 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA CƠ CHẾ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ GIỮA NHÀ TRƯỜNG - CHA MẸ HỌC SINH - HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN LONG BIÊN 2. Đặc điểm kinh tế, xã hội, giáo dục tại quận Long Biên, Hà Nội Ngày 6/11/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 132/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập Quận Long Biên thuộc Thành phố Hà Nội.
Long Biên có diện tích 6.706 nhân khẩu; 14 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường: Cự Khối, Thạch Bàn, Long Biên, Bồ Đề, Ngọc Thụy, Ngọc Lâm, Gia Thụy, Thượng Thanh, Việt Hưng, Phúc Đồng, Sài Đồng, Phúc Lợi, Giang Biên, Đức Giang. Long Biên có các tuyến đường giao thông quan trọng. Đặc biệt với lợi thế vị trí cửa ngõ của Hà Nội, nối liền với trục tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đồng thời cũng là trục kinh tế sôi động là những yếu tố cơ bản thuận lợi để quận Long Biên phát triển nhanh và bền vững. Giáo dục - đào tạo phát triển mạnh theo hướng chuẩn hoá, xã hội hóa, từng bước hiện đại: Quận chủ trương tăng cường đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, tập trung xây dựng trường chuẩn quốc gia, trường chất lượng cao, trường học điện tử với tổng kinh phí 677.1 tỷ đồng; 100% các trường được sửa chữa, xây mới, đầu tư thiết bị dạy học theo hướng đồng bộ, hiện đại.
Quy mô trường lớp tăng, hệ thống trường ngoài công lập (tư thục, dân lập và trường quốc tế) có bước phát triển. Long Biên là một trong những quận có số lượng và tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia cao nhất thành phố Hà Nội. Hiện nay, quận có 25 trường tiểu học công lập và 1 trường liên cấp. Giới thiệu hoạt động khảo sát Khảo sát là một trong những cách tuyệt đối tốt nhất để có được hiểu rõ được thực trạng của thông tin trong quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh 16 và học sinh để từ đó, chúng ta có thể phát huy những mặt mạnh và rút kinh nghiệm để cải tiến những tồn đọng nhằm giúp cho việc thúc đẩy sự phát triển của trẻ một cách toàn diện hơn từ lứa tuổi tiểu học.
Hiện nay, quận Long Biên, Hà Nội có 25 trường tiểu học công lập và 1 trường dân lập, với tổng số lớp là 785 lớp với 35602 học sinh. Số cán bộ quản lý: 52 người, tất cả đều có trình độ đại học trở lên, có 10 thầy cô có trình độ thạc sĩ về quản lý giáo dục. Tổng số giáo viên: 1025 người, trong đó có 785 giáo viên được phân công chủ nhiệm lớp. Số giáo viên chủ nhiệm: - Có trình độ đại học là 582 người, chiếm tỉ lệ: 74,14% - Là nam giáo viên: 12 người, chiếm tỉ lệ 1,52% - Là nữ giáo viên: 773 người, chiếm tỉ lệ 98,48% 2.
Đối tượng khảo sát Nghiên cứu đề tài “Cơ chế thông tin trong tam giác quản lý giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh ở trường tiểu học quận Long Biên”, nghiên cứu đã tiến hành lập bảng câu hỏi khảo sát 250 cha mẹ học sinh, 50 giáo viên chủ nhiệm của các trường tiểu học thuộc quận Long Biên và 20 giáo viên bộ môn. Khi tổng hợp số phiếu trả lời hợp lệ của cha mẹ học sinh là 200 và 30 phiếu trả lời của giáo viên chủ nhiệm, 20 phiếu trả lời của giáo viên bộ môn, 20 phiếu trả lời của giáo viên bán trú. Ngoài ra, tôi cũng thực hiện một số cuộc phỏng vấn trực tiếp một số nhà quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh cũng như học sinh để hiểu rõ hơn thực trạng nhận thức và hoạt động phối hợp quản lý học sinh giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và cá nhân mỗi học sinh ở các trường tiểu học của quận. Nội dung khảo sát Đối với Phụ huynh học sinh 17 - Nhận thức của cha mẹ học sinh về mức độ cần thiết của các nội dung thông tin với nhà trường - Nhận thức của cha mẹ học sinh về mức độ cần thiết của các kênh thông tin với nhà trường.
- Yêu cầu của CMHS đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin trong việc phối hợp giáo dục học sinh - Các giải pháp nâng cao hiệu quả của cơ chế thông tin giữa nhà trường - cha mẹ học sinh - học sinh tiểu học. - Các kênh thông tin liên lạc giữa cha mẹ học sinh với nhà trường. - Mức độ, tần xuất của các kênh thông tin liên lạc giữa cha mẹ học sinh với nhà trường. Đối với học sinh - Sự cần thiết của các thông tin giữa học sinh với nhà trường, với thầy cô giáo, với cha mẹ học sinh.
- Thông tin có ảnh hưởng như thế nào trong việc học tập của học sinh. Đối với giáo viên - Mức độ ảnh hưởng của thông tin giữa nhà trường và phụ huynh tới kết quả giáo dục học sinh - Tần xuất của các kênh thông tin - Nhận thức của GVCN về những công việc chủ động thông tin phối hợp với cha mẹ học sinh và học sinh trong việc giáo dục học sinh - Một số yêu cầu của GVCN đối với nhà trường để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với cha mẹ học sinh, học sinh Đối với lãnh đạo nhà trường - Cách thức của nhà trường đối với gia đình và giáo viên chủ nhiệm cùng quan tâm dạy dỗ trẻ tiểu học (lập bảng phỏng vấn đối với 15 lãnh đạo các trường). - Một số việc của nhà trường đã thực hiện đối với cha mẹ học sinh và 18 học sinh để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và học sinh. Phương pháp khảo sát Tính điểm trung bình với các câu hỏi khảo sát thường có mức độ từ cao xuống thấp.
Kết quả của khảo sát Qua khảo sát và phỏng vấn trực tiếp các thầy cô giáo chủ nhiệm và phụ huynh học sinh, học sinh tôi thấy hiệu quả của các kênh thông tin giữa nhà trường và phụ huynh. Thông qua các kênh thông tin tác động rất lớn đến kết quả giáo dục, đặc biệt kết quả này phụ thuộc lớn vào thầy cô chủ nhiệm. Khảo sát 250 cha mẹ học sinh, 50 giáo viên ở 4 trường trong Quận. Kết quả thu được(200 phiếu của cha mẹ học sinh và 50 phiếu của giáo viên) về các kênh thông tin, tần xuất của các kênh thông tin, nội dung thông tin, hiệu quả của các kênh thông tin đối với phụ huynh học sinh khi trao đổi với nhà trường thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, nhân viên.