Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ PHỐI HỢP CỦA TRUNG ƯƠNG HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG THAM GIA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm về cơ chế phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp của Trung ương Hội LHPN Việt Nam trong tham gia quản lý nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm cơ chế phối hợp 1. Khái niệm cơ chế phối hợp Thông thường để đạt được hiệu quả như mong muốn trong hoạt động lao động, sản xuất; hoạt động phát triển kinh kế, văn hóa, xã hội… các chủ thể thường chủ động phối, kết hợp với nhau nhằm hướng đến đạt mục tiêu nhất định.
Hoạt động quản lý nhà nước là lĩnh vực rộng, bao trùm toàn bộ đời sống xã hội, với nhiều đối tượng, ngành nghề, lĩnh vực khác nhau và khá phức tạp. Để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, đảm bảo các điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước bền vững; đảm bảo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, các tổ chức, cá nhân liên quan, các cơ quan hành chính trong bộ máy Nhà nước thường sử dụng cơ chế phối hợp trong hoạt động để mang lại hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, hướng đến mục tiêu chung vì sự phát triển chung xã hội, của đất nước. Vậy cơ chế phối hợp là gì? Hiện nay, có khá nhiều cách luận giải về “cơ chế phối hợp”, tùy cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu mà các tác giả có các lý giải khác nhau. “Đại từ điển Tiếng Việt”, luận giải cơ chế là “cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, làm cơ sở theo đó mà thực hiện” [49, tr,464].
Trong cuốn “Từ 15 điển Tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Khoa học xã hội lại cho rằng cơ chế là “cách thức, theo đó một quá trình được thực hiện” [13, tr. Như vậy, các định nghĩa trên nói đến “cơ chế” nghĩa là muốn hướng đến đạt kết quả của một quá trình, một công, hoạt động cụ thể nào đó mà người ta lập ra một hình thức tổ chức phù hợp, định ra phương thức để thực hiện quá trình, công việc đó. Một số ý kiến khác thì cho rằng “cơ chế” là “hình thức và phương pháp điều tiết”, là “hệ thống các biện pháp tác động” để đạt kết quả như mong muốn,… Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: cơ chế là một phương thức, cách thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của sự vật hay hiện tượng để hướng đến kết quả nào đó. Ngoài ra, trong lĩnh vực luật học, các học giả tiếp cận và luận giải khái niệm “cơ chế” ở các khía cạnh như: cơ chế pháp lý; cơ chế điều chỉnh pháp luật; cơ chế thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội; cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước… Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào thì khái niệm cơ chế cũng chứa đựng các yếu tố cấu thành, nguyên tắc vận hành, mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cũng như các điều kiện để đảm bảo thực hiện cơ chế đó trong thực tiễn cuộc sống.
Từ “phối hợp” thường xuất hiện trong các hoạt động thực tiễn khi có từ hai cá nhân, hoặc hai cơ quan, tổ chức trở lên có liên quan với nhau trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ; nghĩa là “phối hợp” thường xuất hiện khi tổ chức hoạt động do hai hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức trở lên cùng thực hiện một hoạt động nào đó. Ở góc độ quản lý nhà nước, phối hợp thường được hiểu là một phương thức, một hình thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhằm bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện đúng trách nhiệm, thẩm quyền và thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, cùng hướng đến đạt được các lợi ích chung, mục tiêu chung. Phối hợp thường tồn tại trong suốt quá trình quản lý nhà nước, từ việc 16 hoạch định chính sách, nghiên cứu, xây dựng thể chế cho đến việc tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách, pháp luật trong thực tiễn đời sống xã hội, ở đâu có quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng thì ở đó tất yếu có nhu cầu phối hợp. Như vậy có thể hiểu “cơ chế phối hợp” chính là phương thức, cách thức tổ chức triển khai hoạt động của hai hay nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị,.
nhằm thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ mỗi bên và hướng đến đạt mục tiêu chung. Như vậy, mục tiêu cuối cùng của cơ chế phối hợp là nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng thuận, bảo đảm chất lượng, hiệu quả trong công tác quản lý. Cũng có thể hiểu, cơ chế phối hợp là phương thức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong hoạt động quản lý, cùng hướng đến mục tiêu chung của các bên trong quá trình phối hợp thực hiện. Đặc điểm cơ chế phối hợp Như đã phân tích ở trên, để đạt được hiệu quả trong quản lý, các chủ thể tham gia trong hoạt động quản lý thường xuyên phối hợp thông qua cách thức, phương thức cụ thể để qua đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên và cùng hướng đến đạt mục tiêu chung.
Cơ chế phối hợp thường có các đặc điểm sau: - Phối hợp trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ khó, có tác động, ảnh hưởng sâu, rộng trong đời sống xã hội như: quá trình xây dựng, hoạch định một chính chính sách, dự án Luật, chương trình Mục tiêu quốc gia,… có tác động, ảnh hưởng trong phạm vi xã hội rộng lớn; có ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đó. - Phối hợp trong việc tổ chức, triển khai thực hiện chủ trương, chính sách có liên quan, tác động, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng, 17 nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan đã được quy định trong Hiến pháp, các bộ Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. - Phối hợp trong hoạt động kiểm tra, giám sát việc triển khai nhằm đảm bảo các cơ quan, tổ chức thực hiện đúng, hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong cuộc sống; đảm bảo quyền, lợi ích của các cơ quan, tổ chức, các cá nhân liên quan, qua đó thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên theo quy định. - Việc thực hiện công tác phối hợp phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức đã được quy định; đảm bảo không vượt quá chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tổ chức và đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.
Khái niệm, đặc điểm cơ chế phối hợp của Trung ương Hội LHPN Việt Nam trong tham gia quản lý nhà nước 1. Khái niệm tham gia quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp của Trung ương Hội LHPN Việt Nam trong tham gia quản lý nhà nước Trong thực tiễn cuộc sống, khi con người có các hoạt động chung, cần có sự phân công, phối hợp, cần có sự hợp tác trong quá trình lao động, sản xuất thì đồng thời quản lý xuất hiện. Có thể hiểu“Quản lý là sự tác động có định hướng và có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt những mục tiêu nhất định” [9, tr. Khi Nhà nước hình thành, quản lý nhà nước xuất hiện; quản lý nhà nước gắn với chức năng, vai trò của Nhà nước trong xã hội có giai cấp.
Khi chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội thay đổi thì quản lý nhà nước phải có những thay đổi tương ứng, nghĩa là quản lý nhà nước phụ thuộc vào chế độ chính trị của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Thực tiễn lịch sử phát triển của các hình thái Nhà nước cho thấy, để quản lý nhà nước tốt, chủ thể quản lý nhà nước thường sử dụng công cụ chính 18 sách, pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của nhân dân và duy trì trật tự, kỷ cương, bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội, của đất nước. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý nhà nước, nhưng có thể hiểu: “quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành đối với tất cả cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước” [9, tr. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, hoạt động quản lý nhà nước có 03 chức năng cơ bản, gồm: chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện; chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp đảm nhiệm.
Hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động do cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (thực thi quyền hành pháp) thực hiện nhằm quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của luận văn, học viên tiếp cận khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, tiếp cận quản lý nhà nước ở 02 chức năng cơ bản, đó là: i) chức năng lập quy, được thực hiện thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, cá nhân tuân thủ, thực hiện nghiêm Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; ii) chức năng tổ chức thực hiện, đưa pháp luật đi vào thực tiễn đời sống xã hội. Mục tiêu của quản lý nhà nước là hướng đến cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp 19 chính đáng của nhân dân; đảm bảo tính thượng tôn Hiến pháp, pháp luật nhằm duy trì sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước.