Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: "Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp". Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước hoàn thiện nhằm bảo đảm sự phối hợp và kiềm chế lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, thực tiễn áp dụng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm quyền, tha hóa quyền lực, tham nhũng, trục lợi từ vị trí công tác hoặc tình trạng cấu kết vụ lợi cục bộ. Tòa án nhân dân với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, giữ vai trò phán xét và định đoạt tính đúng đắn, hợp pháp của các quan hệ xã hội, bảo vệ công lý và quyền con người. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án trở thành một yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn.
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Bùi Thị Chinh (Trường Đại học Luật TP.HCM, Khoa Luật Hành chính, Khóa 2019 – 2023) tập trung giải quyết mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu, phân tích làm rõ các vấn đề lý luận và quy định pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam; đánh giá những tiến bộ, hạn chế trong quy định hiện hành; từ đó kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận và hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành về cơ chế kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án.
- Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam, qua đó đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
- Ba là, kiến nghị giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng quy định pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong các quy định của pháp luật Việt Nam về cơ chế tự kiểm soát của Tòa án và cơ chế kiểm soát từ các cơ quan ngoài Tòa án đối với cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động tố tụng của hệ thống Tòa án nhân dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng phương pháp luận triết học Mác – Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về tư pháp. Về mặt lịch sử tư tưởng học thuật, đề tài kế thừa và phân tích các lý thuyết:
- Học thuyết phân chia quyền lực khởi nguồn từ Aristotle (phân biệt ba thành tố: Nghị luận - Chấp hành - Xét xử).
- Học thuyết "Tam quyền phân lập" của Charles Montesquieu và John Locke (thế kỷ XVII - XVIII), nhấn mạnh yêu cầu cơ quan tư pháp phải độc lập với lập pháp và hành pháp để bảo vệ quyền tự do của con người.
- Tư tưởng cải cách tư pháp đầu thế kỷ XX tại Việt Nam của Phan Chu Trinh (thư gửi Hoàng đế Khải Định năm 1922), đề cao việc trao quyền xét xử cho các cơ quan tư pháp độc lập, xử lý theo lương tâm và pháp luật.
Về phương diện lý luận pháp lý đương đại, tác giả tổng hợp ba nhóm quan điểm học thuật tại Việt Nam về nội hàm "quyền tư pháp" (nhóm mở rộng bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan bổ trợ tư pháp; nhóm tố tụng bao gồm điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; nhóm thu hẹp xem quyền tư pháp đồng nhất với quyền xét xử của Tòa án). Tác giả định nghĩa: Quyền tư pháp là quyền đặc trưng của Tòa án, bao gồm quyền xét xử là trọng tâm cùng các quyền năng đi kèm như giải thích pháp luật, tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định, hành vi của cơ quan nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu và văn bản quy phạm pháp luật.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích thực tiễn chứng minh cho lý luận.
- Phương pháp luật so sánh (đối chiếu mô hình kiểm soát quyền lực tư pháp qua các thời kỳ lập hiến và học thuyết quốc tế).
- Phương pháp hệ thống hóa pháp luật.
Nguồn dữ liệu và căn cứ pháp lý:
- Hệ thống Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013.
- Các văn bản pháp luật nền tảng: Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Luật Tố tụng Hành chính năm 2015; Luật Thi hành án Hình sự năm 2019; Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn áp dụng: Nghị quyết 956/NQ-UBTVQH13, Nghị quyết 333/2017/NQ-UBTVQH, Quyết định 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017, Quyết định 87/QĐ-HĐTC ngày 04/7/2018 (Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán), Chỉ thị 05/2020/CT-CA, Quyết định 58/QĐ-TANDTC, Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP.
- Kế thừa các công trình nghiên cứu chuyên sâu: Luận án Tiến sĩ của Phạm Hồng Phong (2021), Nguyễn Quốc Hùng (2016); các bài viết học thuật của Võ Khánh Vinh (2019), Thái Vĩnh Thắng, Nguyễn Đăng Dung (2014), Nguyễn Mai Thuyên, Cao Anh Đô, Trần Ngọc Đường (2021).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay
Chương 1 làm rõ các khái niệm, đặc điểm pháp lý cơ bản của quyền tư pháp, hoạt động thực hiện quyền tư pháp và cơ chế kiểm soát quyền tư pháp:
- Khái niệm và 4 đặc điểm của quyền tư pháp: (1) Tòa án nhân dân là chủ thể duy nhất giữ quyền xét xử và là trung tâm thực hiện quyền tư pháp theo khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013; (2) Quyền tư pháp mang bản chất dân chủ và pháp quyền, quyền lực bắt nguồn từ nhân dân; (3) Phạm vi quyền tư pháp trải dài trong toàn bộ quá trình tố tụng; (4) Quyền tư pháp có tính độc lập cao độ so với quyền lập pháp và hành pháp, cũng như sự độc lập giữa các cấp xét xử và giữa các thành viên Hội đồng xét xử.
- Bản chất của cơ chế kiểm soát quyền tư pháp: Là hệ thống các phương thức, thiết chế tổ chức nhằm theo dõi, giám sát, ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng xét xử và các quyền năng tư pháp khác. Cơ chế này mang 4 đặc trưng:
- Tòa án là chủ thể chính tự kiểm soát việc thực hiện quyền lực của mình nhằm bảo đảm tính độc lập xét xử.
- Cơ chế tự kiểm soát mang tính khép kín, vận hành đồng thời theo nguyên lý chủ động (cơ chế quản lý hành chính nội bộ của Tòa án cấp cao hơn đối với cấp thấp hơn) và tự động (áp dụng các nguyên tắc bắt buộc luật định khi tiến hành tố tụng).
- Có sự kết hợp đa dạng giữa cơ chế tự kiểm soát nội bộ và cơ chế kiểm soát từ bên ngoài của các chủ thể mang quyền lực nhà nước lẫn chủ thể xã hội.
- Mục tiêu tối hậu là nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện quyền tư pháp, ngăn chặn lạm quyền và bảo đảm quyền con người.
- Phân loại các cơ chế kiểm soát:
- Cơ chế tự kiểm soát: Kiểm soát về cơ cấu tổ chức (mô hình Tòa án 4 cấp theo thẩm quyền xét xử, gồm TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện; hệ thống Tòa án quân sự 3 cấp; quyền quản lý tổ chức tập trung của TAND tối cao); kiểm soát về hoạt động tố tụng (chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật).
- Cơ chế kiểm soát bên ngoài: Nhóm chủ thể mang quyền lực nhà nước (Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao, chất vấn, bãi nhiệm chức danh tư pháp, hủy bỏ văn bản trái luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đình chỉ/bãi bỏ văn bản; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tất cả các giai đoạn tố tụng); Nhóm chủ thể không mang quyền lực nhà nước (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan báo chí, truyền thông đại chúng, nhân dân giám sát thông qua nguyên tắc xét xử công khai, Hội thẩm nhân dân và Cổng thông tin điện tử TAND tối cao).
Chương 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hai nhóm cơ chế kiểm soát, chỉ rõ những ưu điểm và bất cập:
- Thực trạng quy định về cơ chế tự kiểm soát:
- Ưu điểm về tổ chức và tố tụng: Hệ thống Tòa án được tổ chức theo mô hình "kim tự tháp" 4 cấp độc lập theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính lãnh thổ; phân định rành mạch giữa nhánh Tòa án thường và nhánh Tòa án quân sự. Về tố tụng, nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được kế thừa xuyên suốt từ Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, Hiến pháp 1946 đến khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, Điều 23 BLTTHS 2015, Điều 12 BLTTDS 2015 và Điều 13 Luật TTHC 2015.
- Bất cập, hạn chế pháp lý:
- Cơ chế tự kiểm soát còn thiếu tính đồng bộ và hệ thống; các quy định nằm rải rác ở nhiều đạo luật và văn bản dưới luật; nhiều quy phạm bị lặp lại hình thức nhưng thiếu quy định phân định ranh giới rõ ràng về quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng chủ thể kiểm soát.
- Quyền năng kiểm soát của Tòa hành chính bị giới hạn: Điều 6 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 chỉ cho phép Tòa án xem xét tính hợp pháp đối với văn bản quy phạm pháp luật liên quan chứ không có thẩm quyền trực tiếp sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ văn bản hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện.
- Tính khả thi của một số hình thức tự kiểm soát còn hạn chế do quy định chung chung: Khoản 1 Điều 18 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định "Tòa án nhân dân tối cao quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức" nhưng không dẫn chiếu cụ thể phạm vi quản lý; khoản 3 Điều 104 Hiến pháp 2013 giao TAND tối cao "bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử" nhưng thiếu quy chuẩn pháp lý định nghĩa thế nào là "áp dụng thống nhất pháp luật".
- Thực trạng quy định về cơ chế kiểm soát bên ngoài:
- Quốc hội và UBTVQH: Giữ quyền lực kiểm soát tối cao thông qua hoạt động xem xét báo cáo công tác, chất vấn Chánh án TAND tối cao, quyết định nhân sự và bãi bỏ các văn bản của TAND tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
- Nhánh hành pháp: Tồn tại độc lập, song song với nhánh tư pháp, không giữ vai trò kiểm soát trực tiếp hay có quan hệ thứ bậc hành chính đối với hoạt động xét xử của Tòa án.
- Viện kiểm sát nhân dân: Thực hiện kiểm sát toàn diện thông qua quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm (Điều 371 BLTTHS 2015) và tái thẩm đối với các bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; tham gia các phiên họp, phiên tòa trong 04 trường hợp luật định tại Điều 21 BLTTDS 2015; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác thi hành án hình sự, dân sự, hành chính.
- Chủ thể phi quyền lực nhà nước: Nhân dân và các tổ chức xã hội thực hiện quyền kiểm soát gián tiếp thông qua chế định Hội thẩm nhân dân, nguyên tắc xét xử công khai, quyền tiếp cận thông tin bản án qua Cổng thông tin điện tử TAND tối cao, quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 28 Hiến pháp 2013). Tuy nhiên, nhóm chủ thể này chỉ dừng lại ở quyền kiến nghị, thông báo mà không có thẩm quyền xử lý pháp lý trực tiếp.
| Nhóm cơ chế kiểm soát |
Chủ thể thực hiện |
Căn cứ pháp lý chủ yếu |
Phương thức kiểm soát chính |
| Tự kiểm soát của Tòa án |
TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện; Thẩm phán, Hội thẩm |
Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức TAND 2014, BLTTHS 2015, BLTTDS 2015, Luật TTHC 2015 |
Quản lý tổ chức, bổ nhiệm, luân chuyển; xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; áp dụng Bộ Quy tắc đạo đức Thẩm phán |
| Kiểm soát từ cơ quan quyền lực nhà nước |
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân |
Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Quốc hội 2014, Luật Tổ chức VKSND 2014, Luật THAHS 2019, Luật THADS 2008 (sđ 2014) |
Bầu, bãi nhiệm chức danh tư pháp; xem xét báo cáo, chất vấn; thực hành quyền công tố, kháng nghị bản án sai phạm, kiểm sát thi hành án |
| Kiểm soát từ xã hội và nhân dân |
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí, truyền thông, công dân |
Điều 9, Điều 28 Hiến pháp 2013, các luật tố tụng |
Tham gia tuyển chọn thẩm phán; phản biện xã hội, đưa tin xét xử công khai; tham gia Hội thẩm nhân dân; gửi khiếu nại, tố cáo |
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu pháp lý: Khóa luận đã hệ thống hóa một cách có căn cứ các quy định pháp luật hiện hành và các mốc lịch sử lập hiến của Việt Nam liên quan đến quyền tư pháp và cơ chế kiểm soát Tòa án. Tác giả đã phân loại và phân tích rành mạch cấu trúc của hai nhánh cơ chế kiểm soát: cơ chế tự kiểm soát nội bộ (tổ chức 4 cấp, độc lập xét xử, giám đốc thẩm/tái thẩm) và cơ chế kiểm soát bên ngoài (Quốc hội, Viện kiểm sát, xã hội).
- Đánh giá thực trạng quy định: Nghiên cứu đã nhận diện chính xác các điểm nghẽn pháp lý thực định: (1) Tính phân tán, thiếu quy chuẩn hóa trong các quy định tự kiểm soát; (2) Giới hạn thẩm quyền của Tòa hành chính trong việc phán quyết đối với văn bản hành chính; (3) Tình trạng thiếu văn bản quy định chi tiết hóa các quyền năng quản lý tổ chức và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của TAND tối cao.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: Công trình góp phần bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên biệt về kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án. Khác với các luận án tiến sĩ trước đây (như nghiên cứu của Phạm Hồng Phong năm 2021 chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa hành pháp và tư pháp, hoặc Nguyễn Quốc Hùng năm 2016 nghiên cứu kiểm soát quyền lực tư pháp ở góc độ chung), khóa luận này tập trung trực diện vào Tòa án nhân dân với tư cách là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp, phân tích sự đan xen giữa tính độc lập xét xử và yêu cầu kiểm soát quyền lực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Khóa luận chủ yếu tiếp cận nghiên cứu dưới giác độ phân tích quy phạm pháp luật thực định và cơ sở lý luận thể chế; chưa tập hợp được đầy đủ các chuỗi số liệu thống kê thực tiễn về số lượng bản án bị hủy, sửa qua thủ tục giám đốc thẩm/tái thẩm trên phạm vi toàn quốc, cũng như các số liệu xử lý kỷ luật chức danh tư pháp để định lượng hóa mức độ hiệu quả của cơ chế kiểm soát trên thực tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá thực tiễn thi hành quy trình lựa chọn, công bố án lệ của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao theo Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP; đánh giá tác động của tiến trình chuyển đổi số và mô hình Tòa án điện tử đối với tính minh bạch trong kiểm soát tư pháp; nghiên cứu các luận cứ sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng nhằm phân định cụ thể thẩm quyền hành chính tư pháp với hoạt động tố tụng độc lập của Thẩm phán.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng hưởng lợi: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Hiến pháp, Luật Tư pháp và Tố tụng; các nghiên cứu sinh, giảng viên luật và cán bộ thực tiễn công tác tại hệ thống Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
- Hệ thống luận cứ phân tích sự phát triển của khái niệm quyền tư pháp từ học thuyết phân quyền cổ điển (Aristotle, Montesquieu, John Locke) đến tư tưởng lập hiến Việt Nam (Sắc lệnh 13/SL, Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013).
- Khung phân tích chi tiết về cơ chế tự kiểm soát nội bộ của Tòa án và thẩm quyền kiểm sát hoạt động tư pháp toàn diện của Viện kiểm sát nhân dân theo các bộ luật tố tụng năm 2015.
- Các phát hiện về bất cập lập pháp trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Luật Tố tụng Hành chính năm 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận định nghĩa quyền tư pháp của Tòa án như thế nào?
Quyền tư pháp là quyền đặc trưng của Tòa án nhân dân, bao gồm việc thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ pháp luật, chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Trong đó, quyền xét xử của Tòa án là trọng tâm, kết hợp với các quyền năng như giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ, kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định/hành vi của cơ quan nhà nước và bảo đảm chấp hành bản án.
2. Cơ chế tự kiểm soát của Tòa án tại Việt Nam gồm những nội dung cốt lõi nào?
Cơ chế tự kiểm soát được xây dựng trên hai khía cạnh: (1) Kiểm soát về cơ cấu tổ chức thông qua mô hình Tòa án 4 cấp độc lập theo thẩm quyền xét xử (không phụ thuộc đơn vị hành chính) dưới sự quản lý thống nhất của TAND tối cao; (2) Kiểm soát về hoạt động tố tụng thông qua các cấp xét xử (phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) và nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật.
3. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án thông qua các phương thức nào?
Viện kiểm sát kiểm soát toàn diện thông qua chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong mọi giai đoạn: phát biểu quan điểm tại phiên tòa; thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định sai phạm; tham gia tố tụng trong các vụ việc dân sự, hành chính luật định; kiểm sát việc thi hành án hình sự, dân sự, hành chính và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.
4. Khóa luận chỉ ra những hạn chế chính nào trong quy định pháp luật về cơ chế tự kiểm soát của Tòa án?
Tác giả chỉ ra 3 hạn chế lớn: (1) Các quy định về tự kiểm soát còn tản mạn, thiếu tính hệ thống và lặp lại; (2) Thẩm quyền của Tòa hành chính bị hạn chế khi không được quyền sửa đổi, bãi bỏ văn bản hành chính trái luật mà chỉ được xem xét văn bản quy phạm pháp luật; (3) Một số quy định còn mang tính khái quát, thiếu hướng dẫn cụ thể như phạm vi "quản lý về tổ chức" của TAND tối cao (Điều 18 Luật Tổ chức TAND 2014) hay tiêu chí "áp dụng thống nhất pháp luật" (Điều 104 Hiến pháp 2013).
5. Lịch sử lập pháp Việt Nam ghi nhận nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán từ văn bản nào?
Nguyên tắc này được xác lập lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 (Điều 50 quy định Thẩm phán xử án quyết định theo pháp luật và lương tâm, không quyền lực nào được can thiệp) và được tái khẳng định trong Hiến pháp năm 1946, đặt nền móng cho quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật tố tụng hiện hành.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Bùi Thị Chinh đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng quy định pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam. Công trình làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa cơ chế tự kiểm soát khép kín trong nội bộ hệ thống Tòa án và cơ chế kiểm soát bên ngoài từ các cơ quan quyền lực nhà nước cùng các thiết chế xã hội, nhằm bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu độc lập xét xử và phòng ngừa lạm quyền. Các luận điểm nhận diện hạn chế pháp lý trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng cung cấp căn cứ tham khảo có giá trị cho tiến trình tiếp tục cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.