phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 5 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƢ PHÁP CỦA TÒA ÁN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái quát về quyền tƣ pháp và việc thực hiện quyền tƣ pháp của Tòa án 1.
Khái niệm và đặc điểm quyền tư pháp a. Khái niệm Thuật ngữ “Quyền tư pháp” đã tồn tại rất lâu trong lịch sử pháp lý. Bắt nguồn từ học thuyết của Aristole, ông cho rằng hoạt động của Cơ quan Nhà nước bao gồm ba cơ quan gắn liền với ba thành tố. Đầu tiên là cơ quan gắn liền với thành tố Nghị luận – cơ quan làm luật; thứ hai là cơ quan gắn liền với thành tố Chấp hành – cơ quan thực thi pháp luật và cuối cùng, cơ quan xét xử gắn với thành tố Xét xử1.
Học thuyết của Aristole có ưu điểm là đã phân biệt được các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, nhưng chưa nêu rõ khái niệm, chỉ rõ chức năng và đặc điểm của các cơ quan trên. Đến thế kỷ 17 – 18, C. Montesquieu và John Locke đã phát triển, tạo nên học thuyết “Tam quyền phân lập”2 với sự kế thừa những ưu điểm từ học thuyết của Aristole. Với học thuyết Tam quyền phân lập, thể chế chính trị sẽ bao gồm ba cơ quan được tổ chức với cơ chế giám sát, kiềm chế hoạt động lẫn nhau, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.
Theo đó, cơ quan lập pháp sẽ có quyền lập pháp, đây là quyền được ban hành các quy tắc xử sự chung áp đặt cho toàn xã hội; cơ quan hành pháp có quyền hành pháp, đảm nhận việc thực thi pháp luật và cơ quan tư pháp có quyền tư pháp – quyền xét xử và các quyền khác nhằm tác động đến hành vi con người. Cũng theo thuyết “Tam quyền phân lập”, cơ quan tư pháp phải độc lập với hai cơ quan còn lại. Bởi, khi mà quyền con người có thể bị xâm phạm bởi quyền ban hành luật pháp của cơ quan lập pháp hay bị đe dọa bởi quyền thực thi pháp luật của cơ quan hành pháp thì cơ quan tư pháp lại có thể giúp con người bảo vệ những quyền chính đáng của mình bằng việc xét xử công bằng, phân minh. Chính vì những lí do đó, trong luật pháp của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam có những quy định chặt chẽ, đặc biệt về quyền tư pháp, nhằm giúp cơ quan tư pháp có cơ sở để hoạt động độc lập, đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của mình.
Xét về khái niệm “Quyền tư pháp”, trong cuốn Tinh thần pháp luật (Hoàng Thanh Đạm dịch) cho rằng trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực, trong đó 1 Chu Thị Ngọc (2010), “Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, số 26, tr.org/about-state-legislatures/separation-of-powers-an-overview (truy cập ngày 18/04/2023). 6 “quyền tư pháp là quyền thi hành những điều trong luật dân sự”. Đây là một loại quyền “không nên giao cho một viện nguyên lão thường trực, mà phải do những người trong đoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật quy định, lập thành Tòa án, làm việc kéo dài bao lâu tùy sự cần thiết”3. Từ khái niệm trên, có thể hiểu rằng quyền tư pháp là một trong ba nhóm quyền lực Nhà nước (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp), được trao cho Tòa án nhằm thực hiện việc kiểm soát cách xử sự của con người trong xã hội.
Tuy nhiên, khái niệm mà Monstequieu đưa ra vẫn chưa thực sự cụ thể và mang tính khái quát cao. Cho đến hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào nói về “Quyền tư pháp”. Tại Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về “Quyền tư pháp”, có thể kể đến như sau4: Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: “Quyền tư pháp được hiểu là hoạt động xét xử của Tòa án và những hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội”. Theo như quan điểm này, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp không chỉ bao gồm Tòa án mà gồm những cơ quan hỗ trợ khác như: Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra, các chủ thể khác như Luật sư, Công chứng viên,… Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền tư pháp được hiểu là tập hợp những hoạt động cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, các tranh chấp pháp luật, hướng tới mục đích giải quyết các vụ án, tranh chấp một cách khách quan, đúng đắn và các hoạt động liên quan đến thi hành các phán quyết của Tòa án, mà các hoạt động đó thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án và thi hành án”.
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng: “Quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực Nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định áp dụng pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật. Nói đến tư pháp là nói đến lĩnh vực hoạt động xét xử của Tòa án và ngược lại”. Như vậy, việc thực hiện quyền tư pháp chỉ thuộc về Tòa án, và quyền tư pháp chỉ bao gồm việc xét xử. Các quan điểm đều đồng nhất rằng quyền tư pháp có liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp và xét xử của Tòa án.
Tuy nhiên, các ý kiến trên hoặc là nêu 3 Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch (1996), NXB Giáo dục, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Khoa Luật, Hà Nội, tr.vn/qt/cacchuyenmuc/ctv/news/Pages/tin-hoat-dong. 7 khái quát về khái niệm “quyền tư pháp”. Như là ở nhóm quan điểm thứ nhất và nhóm quan điểm thứ hai cho rằng quyền tư pháp không chỉ do Tòa án đảm nhận mà còn do các cơ quan khác thực hiện. Do đó, “quyền tư pháp” không chỉ bao gồm hoạt động xét xử của Tòa án, mà còn bao gồm các hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền xét xử của Tòa án.
Ví dụ như hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động kiểm sát việc xét xử của Viện kiểm sát nhân dân hay là hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án. Các hoạt động trên tuy có liên quan đến việc thực hiện hoạt động xét xử của Tòa án. Nhưng chung quy lại, những hoạt động ấy chỉ là hoạt động hỗ trợ việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Do đó, theo tác giả, việc gộp tất cả các hoạt động trên để cấu thành nên khái niệm “quyền tư pháp” là quá rộng, và không đúng bản chất.
Không chỉ là phân tích quá rộng về khái niệm “quyền tư pháp”, một số nhóm quan điểm ở trên còn đi vào phân cụ thể một khía cạnh trong khái niệm này. Như ở nhóm quan điểm thứ ba cho rằng: “Nói đến tư pháp là nói đến lĩnh vực hoạt động xét xử của Tòa án và ngược lại”. Có nghĩa là, quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử của Tòa án. Việc khẳng định quyền xét xử nằm trong quyền tư pháp là không sai.
Nhưng nếu như nói rằng quyền tư pháp chỉ bao gồm quyền xét xử thôi thì chưa đủ. Vì ngoài quyền xét xử, quyền tư pháp còn bao gồm những quyền khác như: “giải thích pháp luật; tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng pháp luật; xây dựng và phát triển án lệ; xây dựng và phát triển cộng đồng Thẩm phán; kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định và hoạt động của các cơ quan Nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn; bảo đảm việc thi hành và chấp hành các bản án, các quyết định khác”5. Theo tác giả, “quyền tư pháp” là quyền đặc trưng của Tòa án, được hiểu là việc thực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Với quyền xét xử của Tòa án là trọng tâm và những quyền khác như quyền giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định của các chủ thể có thẩm quyền hay là việc bảo đảm việc chấp hành đúng các bản án, quyết định của Tòa án, nhằm tác động đến hành vi và xử sự của các chủ thể trong xã hội.
Đặc điểm “Quyền tư pháp” có những đặc điểm chủ yếu sau: 5 Võ Khánh Vinh (2019), “Về quyền tư pháp và chế độ tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 07/2019. 8 Thứ nhất, Tòa án là chủ thể chính trong việc thực hiện quyền tư pháp. Hiến pháp 2013, tại khoản 1 Điều 102 đã quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Như vậy, là một trong ba trụ cột của quyền lực Nhà nước, quyền tư pháp được nhân dân Việt Nam trao cho Tòa án, bên cạnh quyền hành pháp do Chính phủ thực hiện và quyền lập pháp được trao cho Quốc hội.
Ngoài Tòa án còn có các cơ quan tham gia việc thực hiện quyền tư pháp, có thể kể đến như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án,… Thứ hai, quyền tư pháp mang bản chất dân chủ và pháp quyền. Bản chất dân chủ của quyền tư pháp thể hiện ở việc tuy Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, nhưng quyền lực thực sự lại thuộc về nhân dân. Bản chất pháp quyền thể hiện ở việc quyền tư pháp là một loại quyền lực pháp luật, nó gắn liền với pháp luật và các quyền cơ bản của con người. Thứ ba, phạm vi của quyền tư pháp thể hiện ở những hoạt động thuộc quyền tư pháp, trải dài cả quá trình tố tụng.