CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN NHƯỢNG PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY 1. Vốn góp và chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty 1. Khái niệm, đặc điểm về vốn góp và phần vốn góp trong công ty 1. Khái niệm, đặc điểm vốn góp Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện đầu tiên có ý nghĩa quyết định sự phát triển của hoạt động kinh doanh.
Vào thời điểm mới thành lập doanh nghiệp, vốn nói chung cũng như vốn góp nói riêng là vấn đề tiên quyết đối với sự tồn tại của bản thân doanh nghiệp. Vì vậy, việc làm rõ khái niệm vốn của công ty là tiền đề giúp chúng ta hiểu được thế nào là vốn góp và phần vốn góp trong công ty. Công ty là một loại hình doanh nghiệp do các thành viên góp vốn thành lập nhằm mục đích kinh doanh. Muốn tiến hành sản xuất, kinh doanh bất cứ ngành nghề, loại dịch vụ nào đều phải cần có vốn.
Vốn này do các thành viên góp vào để cùng nhau thực hiện các hoạt động kinh doanh kiếm lời. Vì vậy, "vốn góp" và "phần vốn góp" của thành viên góp vốn sẽ gắn liền với sự tồn tại của công ty cho đến khi công ty giải thể hoặc bị phá sản. Bất cứ cá nhân, tổ chức nào muốn trở thành thành viên của công ty đều phải đóng góp tiền, tài sản, trí tuệ. Nói cách khác, việc một thành viên chuyển quyền sở hữu tài sản của mình vào công ty đã làm phát sinh tư cách thành viên công ty của người đó.
Ở Việt Nam, khái niệm vốn được nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: - Dưới góc độ ngôn ngữ học, vốn là “tổng thể nói chung những tài sản bỏ ra lúc ban đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất kinh doanh nói chung và trong hoạt động sinh lợi”. Định nghĩa này đã cho ta hình dung bước đầu về vốn, tuy chưa thật rõ ràng nhưng đã nêu được nguồn gốc 8 của vốn là tổng thể những tài sản bỏ ra ban đầu (thường là tiền) và có chức năng dùng trong sản xuất kinh doanh. - Dưới góc độ kinh tế, việc chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty là hoạt động mua bán, đầu tư kiếm lời. Còn dưới góc độ pháp lý, việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty là một loại giao dịch dân sự, được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật chuyên ngành và các quy định chung khác.
Tuy nhiên, pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành còn chưa quy định rõ bản chất của "thế nào là vốn góp", "phần vốn góp", "hành vi chuyển nhượng vốn góp", cũng như việc quản lý của nhà nước về việc chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty là điều hết sức cần thiết. “vốn là toàn bộ lượng tiền cần thiết nhất định để bắt đầu và duy trì sự hoạt động sản xuất, kinh doanh liên tục của các chủ thể kinh doanh”. Cũng có thể hiểu vốn theo cách khác, đó là “toàn bộ lượng tiền ứng ra ban đầu cho kinh doanh sẽ vận động và chuyển hóa hình thái biểu hiện trong quá trình kinh doanh”. Cách hiểu đó đã khái quát được khái niệm vốn khá rõ ràng, giúp ta hình dung được quy trình lưu chuyển cũng như sự biến đổi từ hình thái tiền tệ sang hình thái phi tiền tệ của vốn.
- Dưới góc độ pháp lý, vốn được hiểu là “tiền, tài sản, quyền tài sản trị giá được thành tiền có thể sử dụng được trong kinh doanh”. Ta thấy luật pháp quy định đối với tiền phải tích tụ đến mức nhất định thì mới có thể sử dụng được trong kinh doanh với tư cách là vốn. Đối với tài sản nếu chỉ thuần túy có giá trị và giá trị sử dụng mà không có khả năng chuyển đổi thành tiền và sử dụng trong kinh doanh thì cũng không có giá trị là vốn. Đối với các quyền tài sản, nếu không có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt để hạch toán trong kinh doanh thì không thể dùng để đầu tư và cũng không được xem là vốn.
Còn theo quan điểm của các nước phát triển, vốn trong công ty được nghiên cứu dựa trên hai phương diện kinh tế và pháp lý. Do đó, nó có hai tính 9 chất: về mặt pháp lý, vốn là số tiền để đảm bảo cho việc trả nợ của công ty; về mặt kinh tế, vốn là phương tiện kinh doanh. Vốn trong công ty nói chung được hiểu là giá trị tính bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của công ty và được công ty sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh, lưu thông mà nó là một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành có mối quan hệ qua lại với nhau phản ánh cấu trúc nội tại của đồng vốn trong công ty. Cấu trúc vốn trong một công ty có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, dựa trên các tiêu chí nhất định.
Đặc biệt nếu căn cứ vào nguồn gốc hình thành, vốn trong công ty được chia thành vốn chủ sở hữu (vốn góp) – hay còn gọi là vốn tự có và vốn tín dụng (vốn vay). Xem xét vốn của công ty từ phương diện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về phương diện sở hữu cũng như phương diện pháp lý. Mặc dù pháp luật quy định các phương thức huy động vốn khác nhau tương ứng với mỗi loại hình công ty, nhưng vào thời điểm mới thành lập, vốn góp là nguồn tài chính chủ yếu quan trọng nhất đối với mọi loại hình công ty. Vậy vốn góp trong công ty là gì? Vốn góp chính là hình thức đầu tư của chủ sở hữu.
Nó là điều kiện tiền đề để thành lập công ty ở giai đoạn mới thành lập, còn trong quá trình sản xuất kinh doanh nó biểu hiện khả năng tài chính của chủ sở hữu công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại chưa có định nghĩa cụ thể về “vốn góp” mà chỉ nếu ra khái niệm “góp vốn”. Có thể thấy “vốn góp” chính là kết quả của việc thực hiện “hành vi góp vốn” vào công ty. Tại Khoản 13 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, quy định: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty.
Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập”. Định nghĩa này cho phép giải thích hành vi góp vốn theo nghĩa hẹp với nội hàm là hoạt động có chủ ý của người có tài sản, trực tiếp chuyển tài sản của mình sang cho công ty để sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc để tăng vốn 10 hoặc bù đắp phần vồn đã thất thoát hoặc thua lỗ trong quá trình công ty sản xuất, kinh doanh. Người góp vốn sẽ trờ thành chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu của công ty đó. Chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu này được gọi là thành viên công ty.
Tài sản được đem góp vốn trở thành vốn góp của công ty và thuộc quyền sở hữu của chính công ty đó. Đồng thời, định nghĩa trên còn chỉ ra bản chất của vốn góp chính là tiền, tài sản và quyền tài tài sản trị giá được thành tiền. Tuy nhiên, sẽ rất hạn chế nếu chúng ta chỉ coi bản chất của vốn góp là tài sản được phép góp vốn vào công ty theo quy địnnh Luật Doanh nghiệp năm 2014 mà quên mất rằng bên cạnh đó cón những thứ không phải tài sản như: kinh nghiệm quản lý, hệ thống mạng lưới khách hàng, thương hiệu. Bởi, các tài sản do các chủ thể kinh doanh cùng nhau “hùn vốn” và góp vào các loại hình công ty khác nhau tuy có cùng chung bản chất là vốn góp nhưng lại có sự khác biệt về tính chất.
Khác với công ty TNHH cũng như công ty cổ phần với tính chất là công ty đối vốn, phần vốn góp vào công ty chỉ đơn thuần mang tính chất vật chất thì đối với công ty hợp danh ngoài các yếu tố vật chất còn bao gồm cả yếu tố phi vật chất đó chính là danh tiếng, là uy tín chuyên môn nghề nghiệp cá nhân của các thành viên hợp danh. Nói cách khác, vốn góp của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh không chỉ bao gồm tài sản góp vốn với nguyên nghĩa mà còn cả yếu tố nhân thân của các thành viên hợp danh. Qua nghiên cứu cho thấy, vốn góp đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động tài chính của công ty. Bởi quá trình sản xuất kinh doanh sẽ được diễn ra khi có ba yếu tố: yếu tố vốn, yếu tố lao động và yếu tố công nghệ.
Trong ba yếu tố đó thì yếu tố vốn là điều kiện tiền đề và có vai trò rất quan trọng. Nó là yếu tố đầu tiên quyết định việc sản xuất kinh doanh của công ty có thành công hay không. Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một lượng vốn để mua nguyên liệu đầu vào, thuê nhân công, mua 11 thông tin trên thị trường, mua bằng phát minh sáng chế. Nếu thiếu vốn việc kinh doanh của doanh nghiệp rất dễ thất bại.
Đặc biệt, trong giai đoạn mới thành lập việc huy động vốn thông qua các hình thức khác như đi vay thường rất khó khăn, cần phải có uy tín hoặc sự bảo lãnh của một chủ thể khác;việc phát hành trái phiếu thì tùy thuộc vào pháp luật từng nước, cũng như quy định đối với từng loại hình công ty có cho phép hay không, nên vốn góp là nguồn kinh phí duy nhất chi trả cho các hoạt động và dịch vụ mà công ty sử dụng. Vậy nên, vốn góp trong công ty đóng vai trò thực hiện mục đích sinh lời, vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình nhưng kết thúc vòng tuần hoàn bao giờ cũng tồn tại dưới hình thái biểu hiện là tiền. Từ những vấn đề trình bày, phân tích ở trên có thể rút ra kết luận: “Vốn góp là toàn bộ lượng tiền, tài sản và quyền tài sản trị giá được thành tiền cũng như những tài sản khác không trị giá được thành tiền mà các chủ thể kinh doanh thỏa thuận đóng góp để phục vụ sản xuất kinh doanh sẽ vận động và chuyển hóa hình thái biểu hiện trong quá trình sản xuất, kinh doanh”. Khái niệm, đặc điểm phần vốn góp Trong những năm gần đây, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH; cổ phần trong công ty cổ phần đã trở thành những tài sản có giá trị lớn trong tài sản kinh doanh của chủ sở hữu.