Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TỔNG CÔNG TY BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 1.1 Khái quát về mô hình công ty mẹ - công ty con 1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế Mô hình công ty mẹ - công ty con là một loại hình tập đoàn kinh tế đã và đang đƣợc các tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia lớn áp dụng và mang lại nhiều hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và cạnh tranh. Do đó, nghiên cứu mô hình công ty mẹ - công ty con cần bắt đầu từ việc tìm hiểu mô hình tập đoàn kinh tế. Do sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, sự tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất, do nhiều nhân tố khác nhau của kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, khoa học quản lý, đã từ lâu ở các nƣớc kinh tế phát triển, nhiều doanh nghiệp đơn lẻ đã liên kết lại với nhau, dần hình thành những tổ hợp kinh tế quy mô lớn, đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, phạm vi hoạt động rộng không chỉ ở một địa phƣơng, một nƣớc mà liên quốc gia và toàn cầu. Những tổ hợp kinh tế này có những tên gọi khác nhau, nhƣ ở các nƣớc Đức, Pháp, Mỹ gọi là Cartel, Syndicate, Trust, Group…, ở Nhật Bản là Zaibatsu, Keiretsu, ở Hàn Quốc gọi là Chaebol….
Đối với Việt Nam những tổ hợp này đang trong quá trình hình thành, gọi là tập đoàn kinh tế hay tập đoàn kinh doanh. Tuy nhiên, khi nói về tập đoàn kinh tế thƣờng có những nhận thức chƣa thống nhất với nhau, cả về bản chất cũng nhƣ về cách thể hiện. Có quan niệm cho rằng tập đoàn kinh tế không phải là một hình thức pháp lý cụ thể, không có tƣ cách pháp nhân, không đăng ký kinh doanh đối với tập đoàn kinh tế mà chỉ đăng ký kinh doanh đối với từng doanh nghiệp tham gia tập đoàn. Vì vậy 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không thể xác định đƣợc đâu là tập đoàn kinh tế và đâu không phải là tập đoàn kinh tế và cũng không có thống kê cụ thể về các tập đoàn kinh tế trên thế giới hay ở một quốc gia và do đó cũng không nên đƣa ra khái niệm về tập đoàn kinh tế.
Mặc dù vậy, trên thực tế dựa trên những cơ sở khác nhau mà ở các nƣớc đã có những quan niệm khác nhau về tập đoàn kinh tế, nhƣ: Một số nƣớc châu Âu nhƣ Đức, Anh, Hà Lan cho rằng tập đoàn kinh tế đƣợc hiểu là sự liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có quan hệ sở hữu và khế ƣớc với nhau, cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một hoặc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế. Một số nƣớc châu Á nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản quan niệm tập đoàn kinh tế là một nhóm doanh nghiệp với các mối liên kết nội bộ với nhau theo hình thức quản lý cài vào nhau hoặc một mức cổ phần chéo nhau nhất định và hoạt động hợp tác. Trung Quốc lại cho rằng tập đoàn kinh tế là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, nó đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa và của nền sản xuất lớn xã hội hoá. Doanh nghiệp nòng cốt của tập đoàn là thực thể kinh tế có tƣ cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh.
Với hệ thống các quan niệm về tập đoàn kinh tế nhƣ vậy dẫn đến có các hình thức tồn tại khác nhau của chúng dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau. Phổ biến nhất là phân loại dựa trên hình thức biểu hiện của tập đoàn và phƣơng thức hình thành tập đoàn. Theo tiêu chí hình thức biểu hiện thì tập đoàn đƣợc phân chia thành 6 loại là Cartel, Syndicate, Trust, Consortium, Concern và Conglomerate. Cartel là hình thức tập đoàn kinh tế theo một ngành chuyên môn hoá, nó chỉ bao gồm các công ty sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ kinh doanh nhằm mục đích hạn chế sự cạnh tranh bằng thoả thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trƣờng tiêu thụ, nguyên liệu, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, kiểu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com loại sản phẩm… Các công ty trong Cartel vẫn giữ nguyên đƣợc tính độc lập về mặt pháp lý và kinh tế.
Quan hệ kinh tế của các công ty này đƣợc duy trì và thể hiện dƣới hình thức hợp đồng kinh tế. Hình thức Syndicate là một dạng đặc biệt của Cartel. Điểm khác biệt của hình thức này so với Cartel là tồn tại một văn phòng thƣơng mại chung do một ban quản trị điều hành và tất cả các công ty thành viên phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của văn phòng này. Nhƣ vậy các doanh nghiệp thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhƣng hoàn toàn mất tính độc lập về thƣơng mại.
Tính liên kết của hình thức này thể hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm. Trust là một hình thức tập đoàn kinh tế không chỉ liên kết ở khâu tiêu thụ nhƣ Syndicate mà còn liên kết ở khâu sản xuất. Việc thành lập Trust nhằm chiếm nguồn nguyên liệu, khu vực đầu tƣ và nhằm thu lợi nhuận cao. Trust bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do một ban quản trị điều hành, do đó các doanh nghiệp thành viên đều mất tính độc lập về sản xuất và thƣơng mại.
Consortium thƣờng do một ngân hàng lớn đứng đầu điều hành toàn bộ hoạt động của toàn Consortium, là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng, nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong nƣớc và ngoài nƣớc hoặc tiến hành công việc mua bán nào đó. Concern là một hình thức tổ chức tập đoàn kinh tế đƣợc áp dụng phổ biến hiện nay ở nhiều nƣớc dƣới hình thức công ty mẹ - công ty con. Công ty mẹ điều hành hoạt động của Concern. Mục tiêu thành lập Concern là tạo thế lực tài chính mạnh để phát triển kinh doanh nhằm hạn chế rủi ro, đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, phƣơng pháp quản lý hiện đại.
Các công ty con là thành viên của Concern hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhƣ hoạt động sản xuất, thƣơng mại, ngoại thƣơng, dịch vụ có liên quan. Các công ty con chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn kinh doanh của mình và giữ tính độc lập về pháp lý, nhƣng phụ thuộc vào Concern về mục tiêu hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung giữa 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công ty mẹ và công ty con thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tƣ. Đây là một mô hình có nhiều tác dụng tích cực, có nhiều khả năng hoạt động tốt, thúc đẩy sự phát triển và liên kết giữa các công ty, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ, xuất nhập khẩu phục vụ kinh doanh của Concern. Một hình thức tập đoàn kinh tế phổ biến hiện nay là Conglomerate - hình thức tập đoàn đa ngành.
Các thành viên của Conglomerate có hoặc không có mối liên hệ với nhau trong quan hệ sản xuất kinh doanh nhƣng lại gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt tài chính. Đây là một tập đoàn hoạt động tài chính thông qua mua bán chứng khoán trên thị trƣờng để đầu tƣ, thu hút những công ty có lợi nhuận cao nhất và các ngành có hiệu quả cao [31 - tr. Nếu dựa trên tiêu chí về phƣơng thức hình thành thì có các hình thức tập đoàn sau: Hình thức thứ nhất bao gồm những tập đoàn kinh tế đƣợc hình thành theo nguyên tắc “kết hợp chặt chẽ trong một tổ chức kinh tế” hay còn gọi là tập đoàn “cứng”. Những tập đoàn kiểu này thƣờng đƣợc tổ chức dƣới dạng đa sở hữu theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau.
Các công ty thành viên trong tập đoàn liên kết với nhau trong một tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất, thƣơng mại. Các công ty này có thể trong cùng một ngành hoặc có liên quan với nhau về chu trình công nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong một hoạt động thống nhất của tập đoàn. Hình thức thứ hai đƣợc hình thành dựa trên nguyên tắc “liên kết kinh tế” thông qua những hiệp ƣớc và hợp đồng kinh tế, hay còn gọi là tập đoàn kinh tế hình thành theo “liên kết mềm”. Về tổ chức của tập đoàn thƣờng có một ban quản trị chung điều hành các hoạt động phối hợp của tập đoàn theo một đƣờng lối chung thống nhất, nhƣng các công ty thành viên vẫn giữ tính 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độc lập về tổ chức sản xuất, thƣơng mại của công ty đó.
Các công ty thành viên có thể ký kết hợp đồng thoả thuận với nhau về những nguyên tắc chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhƣ xác định quy mô sản xuất, hợp tác nghiên cứu, thị trƣờng tiêu thụ… Hình thức thứ ba của tập đoàn là hình thành theo cách thức xác lập thống nhất về tài chính và kiểm soát tài chính. Các công ty thành viên ký kết các hiệp định về tài chính hình thành một công ty tài chính chung gọi là Holding Company. Công ty này trở thành công ty của tập đoàn kinh doanh. Đây là hình thức phát triển cao của tập đoàn kinh doanh.
Trong tập đoàn kinh doanh không chỉ còn thống nhất hạn chế các hoạt động mà lúc này đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực từ tài chính tới hoạt động sản xuất, thƣơng mại, dịch vụ khác nhau [31 - tr. Qua các hình thức của tập đoàn có thể nhận thấy tập đoàn là một hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng về sở hữu, về ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, có quy mô lớn, phạm vi hoạt động trong nƣớc hoặc trên nhiều quốc gia, vừa thực hiện chức năng liên kết kinh tế nhằm tăng cƣờng khả năng tích tụ, tập trung cao nhất các nguồn lực ban đầu (vốn, sức lao động, công nghệ, thị trƣờng…) để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng và tối đa hoá lợi nhuận. Từ điển Business English của Longman thì định nghĩa rằng: “tập đoàn kinh tế là tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhƣng tạo thành một tập đoàn gồm có một công ty mẹ và một hay nhiều công ty hay chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm hơn 1/2 vốn cổ phần” [27 - tr.