CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Phần tổng quan nghiên cứu này cung cấp một bức tranh tổng quát về quá trình tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến nội dung của đề tài. Trong phần này, tác giả tiến hành khái quát hóa những công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan đến hướng nghiên cứu của tác giả. Từ đó, xác định khe hổng của vấn đề nghiên cứu và minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài này. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới Trong 20 năm qua, lĩnh vực công trên toàn thế giới đã được đánh dấu bởi những cải cách căn bản về tổ chức, quản lý và kế toán.
Mục đích của những cải cách này là để nâng cao hiệu quả và trách nhiệm của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ công. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan về cải cách khu vực công, đặc biệt là cải cách kế toán công theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích ở các nước trên thế giới mà tác giả tìm hiểu được. Tổng quan một số nghiên cứu liên quan tới xu hướng cải cách hệ thống kế toán công thông qua việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích Sarath Lakshman Athukorala - Chuyên gia quản lý tài chính và Barry Reid - Nhân viên tư vấn của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) (2003), dựa trên kinh nghiệm làm việc liên quan đến kế toán KVC tại các nước phát triển và các nước đang phát triển ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, trong bài nghiên cứu “Ngân sách dồn tích, kế toán công và các vấn đề liên quan tại các nước đang phát triển”, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như: tiếp cận hệ thống, nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh… với mục tiêu cuối cùng là để cung cấp các tư vấn kỹ thuật về cải cách kế toán KVC theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích; cung cấp các kiến nghị nền tảng cho các nước đang phát triển (DMCs) để có thể cải thiện hệ thống kế toán công của họ theo một lộ trình cụ thể. Kết quả, tác giả khẳng định cải cách KVC hiện nay là một xu hướng và đã được tiến hành ở nhiều quốc gia, không chỉ thành viên các nước phát triển, chẳng hạn như G7 mà còn ở thành viên các nước đang phát triển (DMCs).
Kế toán khu vực công của họ hoặc là đã chuyển đổi, hoặc là đang xem xét chuyển đổi từ CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích. Tuy nhiên, đối với DMCs, quá trình chuyển đổi sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề mà các nước phát triển không phải đối mặt. Từ việc nghiên cứu những bài học, những hạn chế trong quá trình thực hiện kế toán dồn tích ở một số quốc gia, tác giả kết luận rằng để thực hiện thành công kế toán dồn tích, chính phủ các nước DMC cần: (i) Xem xét một cách cẩn thận chiến lược thực hiện và thời gian thực hiện; (ii) Sự cần thiết của cam kết chính trị; (iii) Dự định và mục tiêu phải được truyền đạt rõ ràng; (iv) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Nhân viên kế toán có trình độ; (v) Hệ thống thông tin quản lý tài chính phải phù hợp; (vi) Các vấn đề kế toán cụ thể; và (vii) Để tối đa hóa lợi ích, học hỏi nên là một phần của cải cách. Nghiên cứu cũng đã đề xuất một lộ trình các bước tiếp cận nhằm giúp chính phủ các nước DMC áp dụng thành công kế toán dồn tích.
Hạn chế là nghiên cứu mới chỉ đưa ra những kiến nghị chung cho các nước đang phát triển, chưa có kiến nghị cụ thể và chưa nghiên cứu cho từng quốc gia cụ thể bởi mỗi quốc gia có những điều kiện về môi trường thực hiện khác nhau.L (2005), trong bài nghiên cứu “IPSAS và Cải cách kế toán chính phủ tại các nước đang phát triển”, sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như: nghiên cứu tài liệu, phân tích… tác giả đi đến kết luận rằng chính phủ các nước đang phát triển có nhu cầu, thậm chí là một nhu cầu lớn về thông tin kế toán dồn tích. Qua đó, nhấn mạnh hai yếu tố: đảm bảo toàn vẹn tài chính và chuyển đổi CSKT dồn tích theo IPSASs là rất cần thiết để phát triển xã hội cũng như đem lại lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi CSKT ở các quốc gia này không hề dễ dàng khi có quá nhiều rào cản như: hệ thống chính trị thiếu sự dân chủ, ý chí đổi mới không mạnh, nhu cầu đòi hỏi thông tin của người dân không cao, thiếu kỹ thuật, thiếu tài chính… Do đó, tác giả cho rằng sự thành công của cải cách kế toán công phụ thuộc vào sự hỗ trợ chính trị và hỗ trợ quản lý, sự sẵn có của các nguồn lực như: ngân sách và nhân lực, công nghệ thông tin. Tác giả cũng đưa ra ba mức độ chuyển đổi CSKT dồn tích lần lượt là yếu, trung bình và mạnh.
Đồng thời, liệt kê những nội dung kế toán cần thực hiện ở mỗi mức độ này. Từ đó, tác giả kết luận đối với các nước đang phát triển, khi tiến hành chuyển đổi thì đầu tiên, mức độ dồn tích yếu và dồn tích trung bình là phù hợp. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, từ đó phân tích và đưa thêm lý luận khách quan của mình để nghiên cứu về lợi ích của CSKT dồn tích KVC theo hướng vận dụng IPSAS và chỉ liệt kê những khó khăn khi vận dụng mà chưa có nghiên cứu định lượng để kiểm định và làm rõ mức độ ảnh hưởng của những rào cản đó; đồng thời cũng chưa đề cập đến kiến nghị cụ thể để các nước đang phát triển có thể thực hiện nhằm cải cách và vận dụng IPSAS. Tiếp đó, Maurits Brandon (2007), trong luận án tiến sĩ “Liệu kế toán dựa trên cơ sở dồn tích có lợi ích hơn kế toán dựa trên cơ sở tiền mặt trong khu vực công?” với mục tiêu là xác định xem liệu mô hình kế toán dồn tích có ích hơn mô hình kế toán tiền mặt trong KVC hay không và Hà Lan nên triển khai theo mô hình kế toán nào, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như phương pháp khái quát hóa, khái niệm hóa, phương pháp phân tích… nhằm làm rõ sự khác biệt giữa mô hình dựa trên CSKT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tiền mặt và mô hình dựa trên CSKT dồn tích, giữa khu vực tư nhân và khu vực công.
Tiếp đó, tác giả tìm hiểu mô hình dựa trên CSKT dồn tích được thực hiện như thế nào ở một số quốc gia như New Zealand, Thụy Điển, Vương quốc Anh cũng như tìm hiểu những vấn đề sẽ phát sinh khi thực hiện mô hình tại các quốc gia này. Kết quả cho thấy tại mỗi quốc gia, khi vận dụng mô hình kế toán dồn tích đều có những sự khác biệt và các vấn đề nảy sinh riêng. Tuy nhiên, những vấn đề đó không trọng yếu, vì vậy họ vẫn tiếp tục áp dụng và phát triển mô hình kế toán dồn tích này. Còn đối với Hà Lan, tác giả cho rằng vì không chắc chắn liệu những lợi ích thu được sẽ cao hơn so với chi phí bỏ ra hay không bởi các mô hình cần phải được chạy trong thời gian nhiều năm trước khi rút ra được kết luận.
Vì vậy Hà Lan không ưu tiên cho mô hình nào vào thời điểm này, và chờ đợi thêm kết quả chuyển đổi cơ sở dồn tích tại các nước khác. Hạn chế của nghiên cứu là không đề cập tới việc phân tích chi phí - lợi ích tại các nước có mô hình kế toán dồn tích đầy đủ (New Zealand, Thụy Điển, vương quốc Anh), từ đó không đủ cơ sở để kết luận Hà Lan nên lựa chọn mô hình theo CSKT nào. Các phương pháp nghiên cứu định tính như trên cũng chưa đủ sức thuyết phục đối với bài nghiên cứu. Vì vậy tác giả đề xuất cần nghiên cứu thêm về phân tích chi phí – lợi ích cũng như cần sử dụng thêm phương pháp điều tra phỏng vấn các nhà quản lý để có được một cái nhìn tổng quát về tình huống.
Juta Tikk (2009), trong bài nghiên cứu “Thay đổi kế toán khu vực công Estonia”, với mục tiêu đánh giá việc thực hiện CSKT dồn tích tại các đơn vị công Estonia, sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, so sánh và mô tả; bài viết đã đưa ra một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về lịch sử phát triển các lý thuyết kế toán công và xem xét sự ra đời của các chính sách kế toán dựa trên các lý thuyết này. Nó giải thích các vấn đề trọng yếu và những rủi ro phải đối mặt trong quá trình thay đổi hệ thống kế toán và cung cấp các kiến nghị để khắc phục. Nghiên cứu này cố gắng trả lời câu hỏi: làm thế nào để tối đa hóa lợi ích từ thông tin kế toán trong các tổ chức khu vực công? Kết quả nghiên cứu cho thấy: thứ nhất, sử dụng phương pháp kế toán dồn tích dẫn đến các dữ liệu kế toán đáp ứng nhu cầu thông tin tài chính chính xác và hợp lý cho mục đích ra quyết định. Thứ hai, cải cách kế toán tài chính KVC có thể cải thiện chất lượng và số lượng của các dịch vụ cung cấp cho công dân.
Thứ ba, số lượng các vấn đề kế toán quan trọng được giải quyết tăng lên kể từ khi quá trình chuyển đổi sang CSKT dồn tích được thực hiện. Như vậy, áp dụng CSKT dồn tích là mấu chốt để giải quyết câu hỏi nghiên cứu của tác giả. Tuy nhiên, hạn chế là Estonia cần phải có thêm những quy định chặt chẽ về kế toán, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đồng thời chính phủ không nên nôn nóng bởi thực hiện CSKT dồn tích là một quá trình lâu dài và tốn kém, lợi ích chỉ có thể nhìn thấy sau nhiều thập kỉ. Majella Gomes, trong bài báo “Cải thiện tài chính khu vực công” đăng trên tờ Accountants Today, tháng 2-2013, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn các chuyên gia đầu ngành với mục tiêu phân tích những cố gắng của Malaysia trong việc thực hiện CSKT dồn tích để hội tụ với IPSAS.
Một lần nữa, tác giả khẳng định vai trò của kế toán dồn tích trong việc cung cấp thông tin chính xác về sử dụng nguồn lực, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công, tạo thuận lợi cho Chính phủ đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế.