Chương 1: Lý luận về chuyển đổi hình thức công ty Chương 2: Lược sử phát triển và thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển đổi hình thức công ty Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi hình thức công ty 7 z Phần I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8 z Chuyển đổi hình thức công ty không thể xem là một đề tài mới hoàn toàn bởi lẽ đơn giản là công ty đã xuất hiện với nhiều hình thức từ khá sớm trong lịch sử loài người, và hơn nữa nó là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động mưu sinh của con người, nên các thương nhân luôn luôn tìm kiếm việc sử dụng hữu hiệu và linh hoạt các hình thức công ty dẫn đến việc làm phát sinh ra nhu cầu nghiên cứu chuyển đổi hình thức công ty. Thực tế luật lệ về công ty của các nước ít nhiều đều đề cập tới việc chuyển đổi hình thức công ty. Tuy nhiên việc nghiên cứu sâu về chuyển đổi hình thức công ty trong môi trường pháp lý, cũng như môi trường chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay ở Việt Nam vẫn còn là một đề tài có giá trị quan trọng. Nhận thức rằng nghiên cứu chuyển đổi hình thức công ty không thể không dựa trên một nền tảng kiến thức pháp lý chung về công ty, và từ đó đi sâu vào chế định chuyển đổi hình thức công ty từ lý luận cho tới thực tiễn và kiến nghị cho tương lai.
Vì vậy Phần này được chia thành hai mục lớn để lần lượt giới thiệu tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới, tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, và trong mỗi mục đều giới thiệu tình hình nghiên cứu các vấn đề chung có liên quan và tình hình nghiên cứu trực tiếp về chuyển đổi hình thức công ty. Tuy nhiên do hạn chế về ngôn ngữ nên nghiên cứu sinh chỉ có thể tiếp cận được các tài liệu bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tình hình nghiên cứu ở một số nước trên thế giới a) Tình hình nghiên cứu các vấn đề chung có liên quan ở một số nước trên thế giới Tự do ý chí là tư tưởng có tính nguyên tắc mà hầu hết pháp luật của các quốc gia đều tuân thủ và ghi nhận. Công trình tập hợp hóa và so sánh pháp luật thương mại của các nước trên thế giới lớn nhất là “Digest of Commercial 9 z Laws of the World” của Lester Nelson (bao gồm nhiều công trình nghiên cứu của các luật gia ở hầu hết các nước) cho thấy ngoài các quy tắc pháp lý truyền thống, tự do ý chí in dấu ấn trong luật lệ về thương mại của các nước [125].
Tự do ý chí cũng đã được nghiên cứu ở Việt Nam. Trong đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mang Mã số QG.38 về “Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam”. Sau khi đã khảo sát nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới đã làm rõ hạt nhân lý luận của tự do ý chí (will autonomy) gồm hai vấn đề lớn tóm tắt như sau: Thứ nhất, con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình; và thứ hai, con người có quyền định đoạt tất cả những gì thuộc về mình. Hai vấn đề này có sự gắn bó chặt chẽ và thể hiện rất rõ trong luật tư, nhất là luật dân sự.
Vấn đề thứ nhất liên quan nhiều tới luật hợp đồng hay luật về hành vi pháp lý là những gì mà được xem là nguồn gốc tạo lập ra hậu quả pháp lý bởi ý chí của đương sự, và được biểu hiện cụ thể bằng nguyên tắc tự do hợp đồng. Vấn đề thứ hai liên quan nhiều tới luật về tài sản, mà tại đó quyền tư hữu được thừa nhận và bảo vệ, và được diễn đạt thông qua sự thống trị của chủ sở hữu đối với tài sản của mình. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng tự do ý chí có mặt trái của nó, do đó pháp luật cần có các quy định kiểm soát mặt trái của tự do ý chí. Thực tế pháp luật của hầu hết các nền tài phán đều có các quy định như vậy từ trước tới nay xuất phát từ việc cân đối giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng [38, tr.
Từ cách hiểu tổng quát này, nghiên cứu sinh xin trình bày thật tóm tắt thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới liên quan tới đề tài Luận án. Nghiên cứu sinh cho rằng việc chuyển đổi hình thức công ty được chia thành hai loại. Một loại liên quan tới hành vi pháp lý. Loại khác liên quan tới ý chí của nhà làm luật.
Cả hai loại này đều đòi hỏi nghiên cứu xuất phát từ bản chất pháp lý của công ty. Việc biểu lộ ý chí như thế nào của các thành viên công ty để có được sự chuyển đổi hình thức công ty hoàn tất và các hậu 10 z quả pháp lý liên quan kéo theo không thể không xuất phát từ bản chất pháp lý của công ty và các nguyên tắc của nó. Nhà nước, qua pháp luật, có thể buộc một công ty nào đó phải chuyển đổi hình thức cũng cần phải xuất phát từ bản chất thực của công ty và các nguyên tắc khách quan của luật công ty để có được các quy định thích hợp và có hiệu quả. Vì vậy trước tiên cần khái quát các kết quả nghiên cứu về bản chất pháp lý của công ty và các nguyên tắc của nó.
Các nền tài phán theo Common Law phát triển nhiều học thuyết về bản chất pháp lý của công ty. Trong đó Hoa Kỳ là nước phát triển nhiều học thuyết về bản chất pháp lý của công ty nhất. Cho tới nay ở nước này ít nhất có sự hiện diện của các học thuyết sau: Thứ nhất, Học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo (fiction or artificial entity theory) xem công ty là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà chức trách. Học thuyết này bắt nguồn từ Luật La Mã và Luật Giáo hội với quan niệm về persona ficta; Thứ hai, Học thuyết thừa nhận (fiat theory) hay Học thuyết nhượng quyền (concession theory) xem sự tồn tại của công ty bởi sự nhượng bộ của nhà nước.
Các đặc quyền từ sự nhượng bộ này cho phép các chủ sở hữu và các nhà đầu tư kinh doanh giống như đối với công ty; Thứ ba, Học thuyết hiện thực (realistic theory) hay Học thuyết về tính vốn có (inherence theory) xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện tượng thực tế đã tồn tại; Thứ tư, Học thuyết doanh nghiệp (enterprise theory) nhấn mạnh tới doanh nghiệp thương mại cơ bản, không nhấn mạnh tới thực thể - sự liên kết của những thực thể cấu thành; 11 z Thứ năm, Học thuyết biểu tượng (symbol theory) xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết của những cá nhân sáng tạo thành công ty có nhân tính nhóm; Thứ sáu, Học thuyết mối liên hệ hợp đồng (nexus of contracts) do các nhà kinh tế học phát triển để tạo dựng các mô hình kinh tế. Học thuyết này xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gồm một mạng lưới các quan hệ hợp đồng giữa những cá nhân như: chủ sở hữu của lao động, nguyên vật liệu và vốn (đầu vào) cũng như khách hàng của công ty (đầu ra) và những mối liên hệ khác. Theo học thuyết này, những giám đốc của công ty là những nhân vật chính có chức năng kết hợp các nguồn lực hiện hữu đã được cung cấp để tiến hành các hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận tối đa. Những người nắm giữ cổ phần trong công ty không được xem là những chủ sở hữu của công ty mà chỉ là những người cung cấp vốn, cùng với những người nắm giữ cổ phiếu và những chủ nợ khác chờ đợi thu nhập từ hoạt động đầu tư.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, người nắm giữ cổ phần cũng có thể tham gia quản lý công ty như những giám đốc; Thứ bảy, Học thuyết hợp đồng thường được sử dụng để giải quyết mối quan hệ giữa các thành viên của công ty với nhau; mối quan hệ giữa các thành viên của công ty với bản thân công ty, và mối quan hệ giữa công ty và nhà nước [40, tr. Các học thuyết khác nhau về bản chất của công ty đã góp phần cho việc giải thích khái niệm hiện đại về công ty, nhưng mỗi học thuyết chỉ chiếm một vị trí nhất định trong việc giải thích này và không bao trùm được toàn bộ [149, tr. Chẳng hạn: Học thuyết thừa nhận hay Học thuyết nhượng quyền có giá trị rất lớn ở những thời kỳ trước đây khi người ta ấn định các điều kiện hoặc các giới hạn quan trọng đối với việc thành lập công ty. Nhưng ngày nay 12 z khi việc thành lập công ty trở thành những công việc thông thường của đời sống xã hội, thì học thuyết này vẫn thỉnh thoảng được đề cập đến để xác định vai trò thích hợp của công ty trong xã hội hiện đại mà có liên quan tới các chính sách xã hội.
Học thuyết này còn có tên gọi khác như Học thuyết nguồn gốc chính phủ (government paternity theory) [40, tr. Các nước theo truyền thống Civil Law đều xem công ty là một hành vi pháp lý hay hành vi thương mại. Quan niệm này đều được thể hiện rất rõ trong pháp luật thực định mà Điều 1832, Bộ luật Dân sự Pháp 1804 là một điển hình. Phỏng theo đó các công trình nghiên cứu đều xoay quanh và nhấn mạnh tới bản chất hành vi thương mại của công ty.
Các Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại của Việt Nam dưới các chế độ cũ cũng ghi nhận học thuyết xem công ty là một hợp đồng. Cho đến nay quan niệm này cũng được thể hiện tương đối rõ nét ở các Bộ luật mới ban hành ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ như: Bộ luật Dân sự của Liên bang Nga 1994, Bộ luật Thương mại Czech 1991… Mặc dù có nhiều học thuyết về công ty đối nhân, nhưng các luật gia Hoa Kỳ luôn quan niệm rằng công ty hợp danh là một hợp đồng và mối quan hệ giữa các thành viên trong công ty là quan hệ hợp đồng. Khi giải quyết tranh chấp về công ty hầu hết các nền tài phán đều sử dụng học thuyết xem công ty là một hợp đồng hay là một hành vi pháp lý. Chẳng hạn: Trong vụ Clarke v.
Dunraven [1897], Clarke và Dunraven đều viết đơn xin tham dự vào câu lạc bộ đua thuyền mang tên Mudhook Yacht Club, và cam kết tuân thủ các quy tắc của Yacht Club Association.