Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Chuyển đổi hình thức công ty theo pháp luật Việt Nam"

  • Tác giả: Hoàng Anh Tuấn
  • Chuyên ngành: Luật kinh tế (Mã số: 62 38 50 01)
  • Cơ sở đào tạo: Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (Hà Nội, năm 2011)
  • Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cương và TS. Vũ Quang

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, công ty giữ vai trò là một thành tố kinh tế – xã hội quan trọng. Sự phù hợp giữa năng lực, ý chí của nhà đầu tư với hình thức pháp lý của công ty là yếu tố thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển. Lịch sử lập pháp Việt Nam đã từng bước ghi nhận các hình thức tổ chức kinh doanh qua từng giai đoạn: Sắc lệnh số 06/SL ngày 20/01/1950 ghi nhận hình thức công ty vô danh trong công ty công tư hợp doanh; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 cho phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn; Luật Công ty năm 1990 mở ra hai hình thức công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn; Luật Doanh nghiệp năm 1999 mở rộng cho năm loại hình (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân); và Luật Doanh nghiệp năm 2005 tiếp tục ghi nhận quyền của cá nhân được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Tuy nhiên, chế định chuyển đổi hình thức công ty tại Việt Nam chưa được nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ dự liệu phạm vi chuyển đổi rất hẹp tại hai điều khoản:

  1. Điều 154: Chuyển đổi giữa công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
  2. Điều 155: Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên.

Pháp luật thực định thời điểm này bỏ ngỏ các điều kiện chuyển đổi cụ thể, thiếu chế tài xử lý vi phạm thủ tục chuyển đổi, tạo ra rào cản hành chính và chưa phản ánh đầy đủ bản chất kinh tế cùng quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư. Trong khi đó, pháp luật nước ngoài cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa các hình thức công ty đối nhân và công ty đối vốn. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn lập pháp này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cốt lõi:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật cốt yếu nhất về chuyển đổi hình thức công ty.
  2. Phân tích và đánh giá cô đọng thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển đổi hình thức công ty và thực tiễn thi hành.
  3. Nghiên cứu và kiến nghị các định hướng cùng giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi hình thức công ty.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển đổi hình thức công ty và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển đổi công ty từ hình thức pháp lý này sang hình thức pháp lý khác.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào khía cạnh pháp lý của việc chuyển đổi hình thức công ty, phân định rành mạch với các khái niệm bao trùm như tổ chức lại doanh nghiệp (bao gồm cả chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước thành công ty). Luận án không đi sâu phân tích các yếu tố kinh tế thuần túy và tác động xã hội ngoài phạm vi pháp lý.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Luận án điểm lại hệ thống lý luận và thực tiễn pháp lý quốc tế về công ty và chuyển đổi hình thức công ty:

  • Học thuyết về tự do ý chí và bản chất công ty: Công trình tập hợp luật thương mại quốc tế "Digest of Commercial Laws of the World" của Lester Nelson khẳng định tự do ý chí là nguyên tắc nền tảng của luật tư và luật thương mại. Tại các quốc gia thuộc truyền thống Thông luật (Common Law), đặc biệt là Hoa Kỳ, luận án tổng thuật 07 học thuyết về bản chất công ty: (1) Học thuyết hư cấu hay thực thể nhân tạo (fiction or artificial entity theory), (2) Học thuyết thừa nhận hay nhượng quyền (fiat or concession theory / government paternity theory), (3) Học thuyết hiện thực (realistic theory) hay tính vốn có (inherence theory), (4) Học thuyết doanh nghiệp (enterprise theory), (5) Học thuyết biểu tượng (symbol theory), (6) Học thuyết mối liên hệ hợp đồng (nexus of contracts), và (7) Học thuyết hợp đồng (contract theory). Các án lệ Anh như Clarke v. Dunraven [1897] và Rayfield v. Hands [1958] xác lập bản chất hợp đồng ràng buộc giữa các thành viên công ty với nhau và với công ty.
  • Truyền thống Dân luật (Civil Law): Điều 1832 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 xác định công ty là một hành vi pháp lý/hợp đồng nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Quan niệm này cũng được phản ánh trong Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1994 và Bộ luật Thương mại Séc năm 1991.
  • Nghiên cứu trực tiếp về chuyển đổi hình thức công ty: Tác phẩm "Tổ chức công ty" của Maurice Cozian và Alain Viandier (Nguyễn Văn Bình và Lê Thị Lý dịch, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp xuất bản năm 1989) đưa ra khái niệm "cải hóa công ty" (transformation) và ví việc chuyển đổi như dã tràng chui từ vỏ ốc này sang vỏ ốc khác trong quá trình sinh trưởng. Tác giả Haj Ford phân tích tái cấu trúc công ty xuất phát từ sự thay đổi hợp đồng thành lập (contract of association). Harry G. Alexander (1983) trong "Laws of Corporations and Other Business Enterprises" phân loại chi tiết các hình thức công ty theo luật Anh. Đạo luật Công ty năm 2006 của Nhật Bản và luật công ty các bang tại Úc (Đạo luật sửa đổi năm 1971 tại New South Wales, Victoria; Luật Công ty năm 1981; Đạo luật công ty khai thác mỏ Victoria năm 1871 về công ty không trách nhiệm – no-liability company) cho thấy cơ chế chuyển đổi linh hoạt giữa các loại hình công ty.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Giai đoạn trước năm 1975: Cuốn "Luật thương mại toát yếu" của Lê Tài Triển (1959) và "Luật thương mại Việt Nam dẫn giải" của Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (1972) đã tiếp cận khái niệm cải hóa công ty dựa trên Điều 31 Bộ luật Thương mại Pháp năm 1807.
  • Giai đoạn sau năm 1975: Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QG.38 về "Tự do ý chí trong pháp luật Việt Nam"; Luận án tiến sĩ luật học "Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam" của Ngô Huy Cương (2004); cuốn "Các công ty thương mại" của Nguyễn Mạnh Bách (2006); Dự án VIE/94/003 "Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam"; Báo cáo nghiên cứu so sánh luật công ty của bốn quốc gia Đông Nam Á (Thái Lan, Singapore, Malaysia, Philippines) thuộc Dự án UNDP VIE/97/016 do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện năm 1999.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây tại Việt Nam chỉ đề cập đến chuyển đổi hình thức công ty một cách sơ lược hoặc lồng ghép trong chế định hợp đồng thành lập công ty, tổ chức lại doanh nghiệp. Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện và độc lập về chuyển đổi hình thức công ty dưới góc độ bản chất hành vi pháp lý, làm rõ tính đa quy chế, tính trọng hình thức và đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp tháo gỡ các bất cập của Luật Doanh nghiệp năm 2005.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết tự do ý chí và quyền tự do kinh doanh: Nền tảng triết học của công ty dựa trên tự do ý chí (will autonomy) với hai hạt nhân: con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình và có quyền định đoạt tài sản thuộc về mình. Quyền tự do kinh doanh bao gồm quyền tự do lựa chọn và thay đổi hình thức tổ chức kinh doanh.
  • Lý thuyết về bản chất pháp lý của công ty và chuyển đổi công ty: Công ty được xem là một hành vi pháp lý (hợp đồng đối với công ty nhiều thành viên hoặc hành vi pháp lý đơn phương đối với công ty một thành viên). Chuyển đổi hình thức công ty về bản chất là sự sửa đổi thỏa thuận hợp đồng ban đầu hoặc sửa đổi ý chí đơn phương của chủ sở hữu, không làm chấm dứt tư cách thương nhân pháp nhân và không làm tiêu biến nghĩa vụ nợ đối với người thứ ba.
  • Phân định khái niệm "Doanh nghiệp" và "Công ty": Luận án tiếp cận khái niệm doanh nghiệp theo nghĩa tổ hợp tài sản dùng cho hoạt động thương mại (tương tự Điều 132 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1996, nghiên cứu của Francis Lemeunier, Friedrich Kuebler và Juegen Simon), phân biệt với công ty là chủ thể thương nhân pháp nhân khai thác tổ hợp tài sản đó.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính của khoa học pháp lý trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật: Mổ xẻ các điều luật thực định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Công ty năm 1990, các sắc lệnh và nghị định hướng dẫn.
  • Phương pháp phân tích lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành các hình thức công ty từ thời cổ đại (Bộ luật Hammurabi năm 2300 TCN, chế định shutolin của người Do Thái) qua thời trung cổ đến lịch sử lập pháp Việt Nam từ năm 1950.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các mô hình chuyển đổi công ty của các hệ thống Civil Law (Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản) và Common Law (Anh, Hoa Kỳ, Úc).
  • Phương pháp phân tích vụ việc / án lệ: Đánh giá thực tiễn tư pháp thông qua Bản án số 82/2007/KDTM-ST ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh liên quan đến hợp đồng thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Thẩm mỹ Xuân Trường.
  • Phương pháp hệ thống hóa, điển hình hóa và mô hình hóa: Phân loại các giao dịch chuyển đổi và xây dựng khung giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ: Sắc lệnh 06/SL (1950), Luật Đầu tư nước ngoài (1987), Luật Công ty (1990), Luật Doanh nghiệp (1999, 2005), Luật Doanh nghiệp Nhà nước (1995), Luật Kế toán, các Nghị định 105/2004/NĐ-CP, 129/2004/NĐ-CP, 108/2006/NĐ-CP, 84/2007/NĐ-CP, 139/2007/NĐ-CP, 30/2009/NĐ-CP, 102/2010/NĐ-CP.
  • Các văn bản pháp luật quốc tế và từ điển pháp lý chuyên ngành (Black's Law Dictionary, Enterprise Act 2002 của Anh, Bộ luật Dân sự Pháp 1804).
  • Hồ sơ án lệ và báo cáo khảo sát thực tiễn của các tổ chức chuyên môn (CIEM, GTZ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương trong văn bản Nội dung trọng tâm
Chương 1 Lý luận về chuyển đổi hình thức công ty - Khái niệm công ty và phân biệt với khái niệm doanh nghiệp.
- Bản chất, đặc điểm pháp lý, vai trò và ý nghĩa của việc chuyển đổi.
- Quyền tự do kinh doanh, phân loại, điều kiện, thủ tục và cơ chế bảo vệ người thứ ba.
Chương 2 Lược sử phát triển và thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển đổi hình thức công ty - Lược sử lập pháp Việt Nam từ năm 1950 đến năm 2005.
- Thực trạng các quy định chuyển đổi theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các nghị định hướng dẫn.
- Thực tiễn áp dụng và nguyên nhân khiếm khuyết của pháp luật.
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi hình thức công ty - Các định hướng hoàn thiện pháp luật dựa trên quyền tự do kinh doanh và chuẩn mực quốc tế.
- Các nhóm giải pháp cụ thể: mở rộng phạm vi chuyển đổi, hoàn thiện thủ tục, chế tài và bảo vệ chủ nợ.

Chương 1: Lý luận về chuyển đổi hình thức công ty

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho việc chuyển đổi hình thức công ty:

  • Phân định công ty và doanh nghiệp: Luận án chỉ ra sự thiếu nhất quán trong cách sử dụng thuật ngữ tại Việt Nam. Theo ấn phẩm của CIEM và GTZ (2007), doanh nghiệp là khái niệm chung chỉ các thực thể kinh doanh. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý tài sản, doanh nghiệp là một tổ hợp tài sản (tương tự Điều 132 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1996), còn công ty là thương nhân pháp nhân được tạo lập bởi ý chí của các nhà đầu tư để khai thác tổ hợp tài sản đó.
  • Bản chất và đặc điểm pháp lý của chuyển đổi hình thức công ty: Chuyển đổi hình thức công ty là hành vi pháp lý nhằm thay đổi hình thức kết cấu của thương nhân pháp nhân. Việc chuyển đổi mang hai đặc điểm pháp lý cơ bản:
    1. Tính đa quy chế pháp lý: Quá trình chuyển đổi chịu sự điều chỉnh của cả quy chế áp dụng cho loại hình công ty cũ và quy chế của loại hình công ty mới. Luận án chia thành hai nhóm giao dịch căn bản: (i) Giao dịch chuyển đổi có chuyển nhượng quyền lợi/thay đổi số lượng thành viên; và (ii) Giao dịch chuyển đổi thuần túy không có sự chuyển nhượng quyền lợi hay thay đổi số lượng thành viên.
    2. Tính trọng hình thức: Chuyển đổi tác động trực tiếp đến quyền lợi của thành viên và chủ nợ nên đòi hỏi tuân thủ nghiêm ngặt hình thức văn bản, tỷ lệ biểu quyết nội bộ và thủ tục công khai đăng ký kinh doanh; nếu vi phạm có thể dẫn đến giao dịch vô hiệu.
  • So sánh 03 phương án tổ chức kinh doanh: Khi mô hình công ty hiện tại không còn phù hợp, nhà đầu tư có ba lựa chọn:
    1. Phương án 1 (Thành lập mới và duy trì song song cả hai công ty): Làm gia tăng chi phí quản lý, phân tán nguồn lực.
    2. Phương án 2 (Thành lập công ty mới và chấm dứt công ty cũ): Gặp rủi ro pháp lý lớn trong việc chuyển giao dự án đầu tư (rào cản từ Điều 66 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP và Điều 23 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP về chuyển nhượng dự án có sử dụng đất), phải giao kết lại hợp đồng lao động và nguy cơ mất thương hiệu, khách hàng.
    3. Phương án 3 (Chuyển đổi hình thức công ty): Là phương án tối ưu, đảm bảo công ty mới kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty cũ một cách đương nhiên, không chịu thuế chuyển dịch tài sản và duy trì tính liên tục của hoạt động kinh doanh.
  • Các ví dụ thực tiễn về lý do chuyển đổi: Luận án đưa ra các tình huống thực tế: (1) Nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhượng một phần vốn tại công ty TNHH một thành viên sang công ty TNHH hai thành viên trở lên theo khoản 1 Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2005; (2) Thành viên nắm 78% vốn trong công ty TNHH chuyển đổi sang công ty cổ phần để vượt qua hạn chế chuyển nhượng vốn theo Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2005; (3) Doanh nghiệp dịch vụ kiểm toán và kế toán chuyển đổi hình thức theo Nghị định số 30/2009/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 105/2004/NĐ-CP.

Chương 2: Lược sử phát triển và thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển đổi hình thức công ty

Chương 2 phân tích quá trình tiến hóa lập pháp và đánh giá thực trạng pháp luật thực định:

  • Lược sử lập pháp: Khái quát từ Sắc lệnh 06/SL ngày 20/01/1950, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các nghị định hướng dẫn (Nghị định số 139/2007/NĐ-CP, Nghị định số 102/2010/NĐ-CP).
  • Thực trạng pháp luật thực định:
    • Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại (Điều 154), chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (Điều 155).
    • Nghị định số 102/2010/NĐ-CP bổ sung trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
  • Những khiếm khuyết và nguyên nhân:
    • Phạm vi hẹp và tư duy phân biệt cứng nhắc: Pháp luật Việt Nam chỉ cho phép chuyển đổi giữa các công ty có cùng chế độ trách nhiệm (chuyển đổi giữa các công ty đối vốn), cấm đoán hoặc bỏ ngỏ khả năng chuyển đổi giữa công ty đối nhân (công ty hợp danh) và công ty đối vốn, hoặc chuyển đổi từ công ty cổ phần sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
    • Thiếu hụt quy chuẩn bảo vệ người thứ ba: Chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm liên đới của thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ nợ phát sinh trước thời điểm công ty hợp danh chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
    • Thủ tục hành chính phức tạp: Thiếu các chế tài cụ thể xử lý hành vi gian dối trong hồ sơ chuyển đổi và quy trình đăng ký kinh doanh còn nặng tính can thiệp.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển đổi hình thức công ty

Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp sửa đổi pháp luật:

  • Các định hướng hoàn thiện:
    1. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tôn trọng tự do ý chí của các nhà đầu tư.
    2. Mở rộng tối đa các trường hợp chuyển đổi hình thức công ty phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế.
    3. Xây dựng cơ chế cân bằng giữa quyền tự do chuyển đổi của công ty với việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ ba (đặc biệt là chủ nợ và người lao động) và các thành viên thiểu số.
    4. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa luật công ty với pháp luật đầu tư, đất đai, lao động và thuế.
  • Các giải pháp cụ thể:
    • Mở rộng diện chuyển đổi: Cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh; cho phép chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi chỉ còn một cổ đông; cho phép công ty hợp danh chuyển đổi thành công ty hợp vốn đơn giản khi có sự thay đổi về tư cách thành viên.
    • Hoàn thiện quy chế điều kiện và thủ tục: Quy định minh bạch tỷ lệ biểu quyết bắt buộc trong Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên khi thông qua quyết định chuyển đổi; đơn giản hóa hồ sơ đăng ký kinh doanh chuyển đổi.
    • Thiết lập cơ chế bảo vệ chủ nợ và bên thứ ba: Quy định nghĩa vụ thông báo bắt buộc bằng văn bản cho các chủ nợ trước khi chuyển đổi; xác lập thời hiệu chịu trách nhiệm liên đới vô hạn của thành viên hợp danh cũ đối với các khoản nợ phát sinh trước khi chuyển đổi sang hình thức trách nhiệm hữu hạn.
    • Bổ sung chế tài xử phạt: Quy định cụ thể chế tài hành chính và dân sự đối với các vi phạm về điều kiện, trình tự chuyển đổi nhằm ngăn ngừa tình trạng lợi dụng việc chuyển đổi hình thức để trốn tránh nghĩa vụ thuế hoặc nghĩa vụ trả nợ.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Luận án đã luận giải bản chất pháp lý của công ty và chuyển đổi hình thức công ty dưới góc độ hành vi pháp lý (sửa đổi hợp đồng thành lập công ty hoặc sửa đổi hành vi pháp lý đơn phương).
    • Xác định và làm sáng tỏ hai đặc điểm pháp lý nền tảng của chuyển đổi hình thức công ty: tính đa quy chế pháp lý và tính trọng hình thức.
    • Làm rõ sự khác biệt giữa khái niệm công ty (chủ thể thương nhân) và doanh nghiệp (tổ hợp tài sản), góp phần chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý kinh tế tại Việt Nam.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách lập pháp:

    • Chỉ ra một cách toàn diện các bất cập, mâu thuẫn trong các quy định về chuyển đổi công ty tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
    • Cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm mở rộng phạm vi các hình thức chuyển đổi cho phép, hoàn thiện quy trình bảo vệ chủ nợ và thành viên thiểu số, phục vụ trực tiếp cho hoạt động sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Luận án chỉ tập trung vào khía cạnh pháp lý của việc chuyển đổi hình thức công ty, không phân tích sâu các yếu tố kinh tế tài chính (như kỹ thuật định giá doanh nghiệp, tái cấu trúc tài chính) và các tác động xã hội rộng hơn.
    • Về mặt tư liệu, do rào cản ngôn ngữ, tác giả chủ yếu tiếp cận và khai thác hệ thống tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tố tụng và giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc chuyển đổi hình thức công ty tại Tòa án và Trọng tài thương mại.
    • Nghiên cứu mở rộng so sánh pháp luật chuyển đổi công ty tại các quốc gia sử dụng các ngôn ngữ khác trong khu vực và trên thế giới.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học và gợi ý thực tiễn có giá trị cho Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội trong việc sửa đổi chế định tổ chức lại doanh nghiệp.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên luật: Là tài liệu chuyên khảo chuyên sâu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề về Luật Công ty, Luật Thương mại và Hợp đồng kinh doanh.
  • Đối với thẩm phán, luật sư và nhà đầu tư: Giúp các thẩm phán, luật sư có cơ sở lý luận giải quyết các tranh chấp nội bộ công ty (như bản chất hợp đồng thành lập công ty); hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn phương án tái cấu trúc tối ưu về chi phí và an toàn pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất pháp lý của việc chuyển đổi hình thức công ty được luận án xác định là gì?

Luận án xác định chuyển đổi hình thức công ty về bản chất là một hành vi pháp lý (giao dịch dân sự/thương mại). Đối với công ty nhiều thành viên, chuyển đổi là sự sửa đổi hợp đồng thành lập công ty ban đầu; đối với công ty một thành viên, đó là sự sửa đổi ý chí đơn phương của chủ sở hữu. Việc chuyển đổi không làm tiêu biến tư cách pháp nhân và không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ của thương nhân đối với người thứ ba.

2. Luận án phân biệt khái niệm "công ty" và "doanh nghiệp" như thế nào?

Dưới góc độ pháp lý tài sản, doanh nghiệp được hiểu là một tổ hợp tài sản (tích sản) được sử dụng cho mục đích kinh doanh và là đối tượng của các quyền tài sản (có thể mua bán, cho thuê, thế chấp theo Điều 132 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga năm 1996). Trong khi đó, công ty là thương nhân pháp nhân – chủ thể pháp lý do các nhà đầu tư sáng tạo ra bằng hành vi pháp lý để trực tiếp khai thác tổ hợp tài sản đó.

3. Vì sao chuyển đổi hình thức công ty lại an toàn và tiết kiệm hơn việc giải thể công ty cũ để lập công ty mới?

Khi chuyển đổi, công ty mới đương nhiên kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty cũ mà không phải chịu các chi phí thuế, lệ phí chuyển nhượng tài sản. Doanh nghiệp tránh được các rào cản phức tạp của thủ tục chuyển nhượng dự án đầu tư (theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP), đồng thời giữ ổn định hợp đồng lao động, quan hệ khách hàng và thương hiệu.

4. Án lệ thực tiễn nào tại Việt Nam được luận án sử dụng để chứng minh bản chất hợp đồng của công ty?

Luận án dẫn chứng Bản án sơ thẩm số 82/2007/KDTM-ST ngày 18/10/2007 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án đã xét xử và tuyên hợp đồng hợp tác thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Thẩm mỹ Xuân Trường ký giữa ông Đỗ Xuân Trường và bà Phạm Thị Kiều Thu vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định pháp luật.

5. Luật Doanh nghiệp năm 2005 có những hạn chế gì về chế định chuyển đổi hình thức công ty theo phân tích của tác giả?

Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ cho phép 02 trường hợp chuyển đổi hẹp tại Điều 154 và 155 (chuyển đổi giữa TNHH và Cổ phần; TNHH 1 thành viên sang TNHH 2 thành viên trở lên); áp đặt tư duy chỉ cho phép chuyển đổi giữa các công ty đối vốn; bỏ ngỏ điều kiện chuyển đổi và chế tài xử lý vi phạm; thủ tục chuyển đổi còn tạo rào cản cho quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chuyển đổi hình thức công ty theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Hoàng Anh Tuấn là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về chế định chuyển đổi công ty trong khoa học pháp lý Việt Nam. Bằng phương pháp tiếp cận định tính, kết hợp giữa lịch sử lập pháp, luật học so sánh và phân tích thực trạng văn bản thực định, tác giả đã làm sáng tỏ bản chất hợp đồng và các đặc điểm pháp lý cốt lõi của việc chuyển đổi hình thức công ty. Công trình chỉ rõ những bất cập của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và đề xuất các giải pháp lập pháp toàn diện nhằm mở rộng quyền tự do kinh doanh, bảo vệ quyền lợi của chủ nợ và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý công ty tại Việt Nam.