Chương 1- Khái quát chung về chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên: 1.1- Quan niệm về chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên Trong những năm gần đây ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn đã đẩy nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường lao động tác động tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội của nhiều nước trong đó có Việt Nam. Nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khó khăn và thử thách to lớn. Mặt khác, ở trong nước những năm qua do thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, dưới sự đồng tâm của toàn thể nhân dân, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nước ta đã dần dần bước qua giai đoạn khó khăn nhất, giảm dần lạm phát ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội.
Để đạt được kết quả đó có một phần đóng góp quan trọng của các DNNN là những lá cờ đầu trong nền kinh tế quốc dân, là công cụ vật chất để Nhà nước định hướng, điều tiết vĩ mô chính sách kinh tế, thực hiện chính sách an sinh xã hội. Theo điều 1, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 quy định: Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn để thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tê - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt nam. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến năm 2003 thì định nghĩa DNNN được nêu rõ: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điểu lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” (điều 1, Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003) Như vậy, về hình thức so với luật DNNN (1995) thì định nghĩa về DNNN trong luật DNNN (2003) đã được rút gọn hơn.
Luật DNNN sửa đổi năm 2003 không đưa ra những đặc điểm cụ thể của DNNN mà theo hướng khái quát hơn, theo đó DNNN cũng có những đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp khác nhưng điểm khác nhau cơ bản nhất là Nhà nước sỡ hữu vốn điều lệ hoặc cổ phần chi phối. Không chỉ trong thời gian hiện nay Nhà nước mới tham gia vào hoạt động kinh doanh mà ngay từ thời phong kiến thì Nhà nước đã tham đầu tư và kinh doanh. Truyền thống kinh doanh của Nhà nước được kế thừa và tiếp nối trong các giai đoạn lịch sử cho đến tận ngày hôm nay. Tuy nhiên, trong một xã hội trọng nông, ức thương đã ngăn cản thương nhân phát triển, lại mặc cảm với kinh tế tư bản, vốn đồng nghĩa với sự xâm lược và đàn áp hà khắc của chế độ thực dân, người dân Việt Nam có nhiều lý do để đặt niềm tin vào kinh tế quốc doanh.
Khi kinh tế tư hữu và cạnh tranh chưa phát huy được hiệu quả, thì việc Nhà nước trở thành chủ đầu tư lớn nhất, đặc biệt là trong cơ sở hạ tầng và những lĩnh vực thuộc độc quyền tự nhiên, là tất yếu. Dưới cơ chế quản lý quan liêu bao cấp thì các doanh nghiệp trong nền kinh tế đều là DNNN, do Nhà nước làm chủ sở hữu. Khi đó, Nhà nước độc quyền kinh doanh. Người dân mà kinh doanh là vi phạm pháp luật, là con buôn.
Mỗi doanh nghiệp, khi đó được gọi là Xí nghiệp, đều do một cơ quan quản lý Nhà nước quản lý, gọi là cơ quan chủ quản. Chẳng hạn, Xí nghiệp sản xuất xe đạp thì do Ty (sau này là Sở) Công nghiệp quản lý; Xí nghiệp Thương mại bán 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com buôn, bán lẻ thì do Ty (Sở) Thương nghiệp quản lý, v.v…Mỗi Xí nghiệp có một Giám đốc Xí nghiệp do Giám đốc Sở bổ nhiệm hoặc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm tuỳ theo quy mô của Xí nghiệp. Mọi hoạt động của Xí nghiệp từ tuyển dụng nhân sự, kế hoạch sản xuất, mua vật tư, nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, giá bán, địa chỉ của người mua hàng…đều phải được lập kế hoạch và được cơ quan chủ quản phê duyệt. Các Xí nghiệp cứ hoạt động theo kế hoạch được duyệt.
Cuối năm, nếu có lãi thì nộp về Ngân sách Nhà nước sau khi đã được trích các quỹ theo chỉ tiêu được duyệt, nếu bị lỗ thì Ngân sách Nhà nước cấp bù. Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới nền kinh tế thị trường được tiếp thu thì các DNNN lại bộc lộ những khuyết tật của mình. Và việc chuyển từ nền kinh tế tập chung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường với đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong môi trường cạnh tranh chúng ta cũng gặp phải nhiều khó khăn. Nhất là, từ khi gia nhập vào sân chơi chung toàn cầu hóa, gia nhập WTO thì những ưu ái đặc biệt dành cho DNNN đã không còn phù hợp và đôi khi trở thành rào cản bất lợi trong sân chơi quốc tế.
Chính vì vậy việc cải cách, đổi mới DNNN cần phải được đặt ra. Việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên cũng là một trong những yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng trong các doanh nghiệp không phân biệt quốc doanh hay dân doanh. Như vậy, chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên là một quá trình thay đổi về mặt nội dung cũng như hình thức trong các DNNN. Trong đó thay đổi cơ bản nhất là thay đổi về khung pháp lý, theo đó DNNN trở thành những doanh nghiệp có địa vị pháp lý như những doanh nghiệp dân doanh khác, hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 và không còn được nhận những ưu tiên từ phía Nhà nước trong quá trình hoạt động đầu tư và kinh doanh.
Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn đầu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư, doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình mà cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm thay cho doanh nghiệp. Có thể nói đây là một quá trình “công ty hóa” các DNNN, về bản chất pháp lý thì khi đó DNNN mới thực sự là công ty.2-Sự cần thiết của việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên Như đã nói ở trên, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nền kinh tế hội nhập quốc tế thì việc chuyển đổi DNNN để hoạt động có hiệu quả kinh tế cao là một việc làm cần thiết. Chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên tuy không tạo ra tính đột phá như việc cổ phần hóa DNNN, tuy nhiên nó cũng là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa nhất định. Về mặt pháp lý thì theo quy định tại điều 166, Luật doanh nghiệp 2005 thì chậm nhất là trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực (tức là ngày 01/7/2006) các công ty Nhà nước thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNNN hoặc công ty cổ phần theo quy định của luật doanh nghiệp năm 2005.
Như vậy, thời hạn 01/7/2010 là thời hạn mà Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003 hết hiệu lực pháp luật, vì vậy những doanh nghiệp thành lập theo quy định của luật DNNN năm 2003 mà chưa cổ phần hóa thì phải chuyển sang công ty TNHH một thành viên để hoạt động theo luật Doanh nghiệp 2005. Nên việc chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH một thành viên là việc cần thiết tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các DNNN. Về mặt kinh tế thì với việc chuyển đổi những DNNN mà nhà nước cần nắm giữ 100% vốn sang công ty TNHH một thành viên thì không chỉ để thực hiện được mục tiêu thống nhất thực hiện một Luật doanh nghiệp tránh tình trạng nhiều luật gây rườm rà bởi DNNN cũng là một loại hình doanh nghiệp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nên không thể có một Luật riêng khi áp dụng, mà còn nhằm mục đích đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, tạo ra sự bình đẳng trong đầu tư kinh doanh với các loại hình doanh nghiệp khác. DNNN trở thành một thực thể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của mình.
Như vậy, DNNN sẽ hoạt động có hiệu quả hơn mà không phải phụ thuộc vào các mệnh lệnh hành chính. Chuyển đổi DNNN sang công ty TNHH là một đòi hỏi mang tính tất yếu của việc xây dựng một nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Việc thực hiện chuyển đổi là bước đi quan trọng trong việc thực hiện lộ trình cam kết khi gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO của Việt Nam. Để xây dựng một nền kinh tế thị trường thì chúng ta phải tạo ra một khung pháp lý bình đẳng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, không thể vì DNNN thuộc sỡ hữu của nhà nước mà được ưu tiên cho những quy định riêng khi tiến hành đầu tư kinh doanh.
Tuy nhiên, khi tham gia tổ chức thương mại thế giới các quốc gia như Mỹ hay liên minh Châu Âu không yêu cầu chúng ta cắt giảm số lượng DNNN, mà họ chỉ yêu cầu tạo ra sự bình đẳng trong hoạt động của các loại hình doanh nghiệp. Chính vì vậy, nguyên nhân chủ yếu của việc chuyển đổi là do DNNN trong thời gian qua hoạt động chưa hiệu quả, chưa xứng đáng với nguồn lực cũng như khả năng của mình. Có nhiều lý do và cách giải thích vì sao DNNN hoạt động kém hiệu quả có thể chỉ ra một số nguyên nhân chủ yếu đó là: Không xác định được chủ sở hữu đích thực trong DNNN. Theo quy định Hiến pháp 1992: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.