Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống kinh tế quốc dân, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất giữ vị trí nền tảng, cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho đời sống con người, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và đóng vai trò tạo tiền đề thúc đẩy các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc chuyển đổi mô hình từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, có hiệu quả kinh tế cao là yêu cầu mang tính quy luật và cấp thiết.

Tỉnh Hà Tây (thời điểm nghiên cứu năm 2003) là địa phương giáp ranh thủ đô Hà Nội, có mật độ dân số cao với khoảng 92% dân cư sinh sống tại khu vực nông thôn. Mặc dù địa phương đã đạt được những bước tiến ban đầu trong xóa đói giảm nghèo, song nhìn chung nền sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, manh mún, nặng về tự cung tự cấp và độc canh cây lương thực. Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác triệt để nguồn nhân lực dồi dào cùng các lợi thế so sánh sinh thái của địa phương là nhiệm vụ có tính bức bách.

Khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về cơ cấu sản xuất nông nghiệp cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
  2. Phân tích, đánh giá toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Tây giai đoạn 2000 - 2003.
  3. Xác lập phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp kinh tế - kỹ thuật nhằm đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ cấu và quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp, tập trung vào ba phân ngành chính: trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Phạm vi không gian nghiên cứu bao trùm địa bàn tỉnh Hà Tây với các tiểu vùng địa hình đồng bằng, gò đồi và miền núi; phạm vi thời gian tập trung vào dữ liệu thống kê giai đoạn 2000 - 2003 và các mục tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các nguyên lý kinh tế chính trị học và kinh tế nông nghiệp kinh điển của Adam Smith, David Ricardo, John Maynard Keynes, Karl Marx, Friedrich Engels và V.I. Lenin. Cơ sở lý luận được bổ sung bởi các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ VIII.

Khóa luận làm rõ các khái niệm cốt lõi:

  • Cơ cấu sản xuất nông nghiệp: Cấu trúc bên trong của ngành nông nghiệp, bao gồm các bộ phận cấu thành có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt số lượng và chất lượng trong điều kiện không gian, thời gian cụ thể.
  • Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp: Quá trình biến đổi từ cơ cấu cũ sang cơ cấu mới hợp lý hơn về mặt lượng (tương quan tỷ lệ giữa các ngành, vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế) và mặt chất (phương án bố trí, tính cân đối và hiệu quả kinh tế), phản ánh sự phân công lại lao động xã hội nhằm thích ứng với cơ chế thị trường và tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp thống kê mô tả, phân tích kinh tế, phân tổ thống kê để xử lý chuỗi số liệu thứ cấp.
  • Phương pháp so sánh không gian (đối chiếu giữa Hà Tây với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Thái Lan) và so sánh thời gian (giai đoạn 2000 - 2003).
  • Phương pháp logic kết hợp phân tích tổng hợp phục vụ việc khái quát hóa thực trạng và xây dựng kiến nghị.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Hà Tây, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây, Phòng Phân vùng thuộc Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, cùng chuỗi số liệu quan trắc của các trạm khí tượng thủy văn Hà Đông, Sơn Tây, Ba Vì và Tam Đảo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận về cơ cấu sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Chương I trình bày hệ thống lý thuyết về bản chất, đặc trưng và nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tác giả phân tích các đặc trưng mang tính khách quan, tính lịch sử - xã hội, tính quy luật vận động và yêu cầu đồng bộ với thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Nội dung cơ cấu sản xuất nông nghiệp được xem xét trên ba phương diện: cơ cấu ngành (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp), cơ cấu vùng lãnh thổ (chuyên môn hóa gắn với phân vùng sinh thái) và cơ cấu thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể/hợp tác xã, kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình).

Chương này cũng xác lập hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyển dịch (cơ cấu giá trị sản xuất, cơ cấu sản phẩm hàng hóa, cơ cấu lao động, cơ cấu vốn, cơ cấu đất đai) và chỉ tiêu phản ánh hiệu quả (năng suất cây trồng - vật nuôi, năng suất ruộng đất, năng suất lao động, giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích và vốn đầu tư).

Đồng thời, tác giả tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước:

  • Kinh nghiệm Thái Lan: Diện tích tự nhiên 514.000 km², dân số 60,4 triệu người, đất canh tác 20.800 nghìn ha (bình quân 0,64 ha/người). Thái Lan tổ chức hệ thống hơn 3.000 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp với 6 loại hình theo mạng lưới 3 cấp (cơ sở - tỉnh - quốc gia), nông nghiệp chiếm 11% GDP, năng suất lúa đạt 2,446 tấn/ha nhờ chú trọng đầu tư công nghệ sinh học và chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
  • Kinh nghiệm tỉnh Nam Định: Chuyển đổi cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2002 theo hướng giảm trồng trọt từ 75,43% xuống 73,01%, tăng chăn nuôi từ 22,46% lên 24,95% và dịch vụ nông nghiệp từ 2,21% lên 3,04%; đạt giá trị sản xuất trên đất canh tác 29,7 tạ/ha, giá trị sản xuất trên một lao động đạt 2,5 triệu đồng và tỷ suất hàng hóa đạt 43,9%.
  • Kinh nghiệm huyện Từ Liêm (Hà Nội): Giảm tỷ trọng trồng trọt từ 71,5% (năm 1990) xuống 62,25% (năm 2000), tăng chăn nuôi từ 22,7% lên 25,49%; giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đạt 56,67 triệu đồng năm 2000; phát triển mạnh hoa, cây cảnh ven đô (năm 2000 chiếm 44,2% cơ cấu trồng trọt của huyện và đóng góp 48,43% giá trị hoa toàn thành phố Hà Nội).
Địa phương / Quốc gia Giai đoạn / Năm Cơ cấu Trồng trọt (%) Cơ cấu Chăn nuôi (%) Cơ cấu Dịch vụ NN (%) Chỉ tiêu hiệu quả nổi bật
Thái Lan Đầu thập niên 2000 - - 3.000 HTX (6 loại hình) Nông nghiệp chiếm 11% GDP; năng suất lúa 2,446 tấn/ha
Tỉnh Nam Định 2000 75,43 22,46 2,21 Tỷ suất hàng hóa đạt 43,9%; GTSX/lao động đạt 2,5 triệu đồng
Tỉnh Nam Định 2002 73,01 24,95 3,04 Tốc độ tăng trưởng GTSX đạt 14 - 15%/năm
Huyện Từ Liêm (Hà Nội) 1990 71,50 22,70 - -
Huyện Từ Liêm (Hà Nội) 2000 62,25 25,49 - GTSX đạt 56,67 triệu đồng/ha; hoa chiếm 44,2% diện tích huyện

Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Tây

Chương II phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên và thực trạng kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây:

  • Địa hình và đất đai: Tỉnh có 2 dạng địa hình chính gồm vùng đồi núi phía Tây rộng 70.400 ha (đỉnh Ba Vì cao 1.281 m, vùng núi đá vôi Chương Mỹ - Mỹ Đức, đồi thấp rộng 5.342 ha) và vùng đồng bằng phía Đông chiếm 2/3 diện tích (độ cao từ 1,7 m đến 11 m, tồn tại hai vùng trũng úng chính tại Mỹ Đức thuộc hữu ngạn sông Đáy và Ứng Hòa - Phú Xuyên thuộc tả ngạn sông Đáy). Quỹ đất tự nhiên năm 2002 là 219.160,63 ha; các nhóm đất chính gồm đất phù sa bồi Pb (17.030 ha, chiếm 8%), đất phù sa không bồi P (51.392 ha, chiếm 24%), đất phù sa gley Pg (51.551 ha, chiếm 24,01%), đất nâu vàng phù sa cổ Fp (20.603 ha, chiếm 10%) và đất đỏ vàng Ff (10.873 ha, chiếm 5%).
  • Thủy văn và hồ đập: Mạng lưới sông ngòi gồm sông Đà, sông Hồng (trữ lượng thủy năng 174 tỷ m³/năm, lượng phù sa 120 triệu tấn/năm), sông Đáy (dài hơn 100 km, lưu lượng phân lũ đập Đáy tối đa 500 m³/s), sông Tích - Bùi (dài 91 km, lưu vực 1.330 km², dung tích gần 160 triệu m³, tưới tiêu 25.000 ha), sông Thanh Hà và sông Nhuệ (chảy qua Hà Tây 53 km, cấp nước tưới cho 40.000 ha). Hệ thống hồ chứa có dung tích thiết kế lớn như hồ Đồng Mô (86,0 triệu m³, tưới 12.000 ha), Suối Hai (42,3 triệu m³, tưới 7.500 ha), Quan Sơn (11,4 triệu m³, tưới 1.800 ha), Đồng Sương (7,5 triệu m³, tưới 1.050 ha), Xuân Khanh (5,6 triệu m³, tưới 700 ha), Văn Sơn (5,5 triệu m³, tưới 650 ha).
  • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm từ 23,1°C đến 23,8°C (vùng núi Ba Vì mát mẻ khoảng 18°C), độ ẩm không khí trung bình 83 - 85%, số giờ nắng từ 1.617 giờ (Hà Đông) đến 1.681,5 giờ (Sơn Tây); lượng mưa phân hóa thành mùa mưa (chiếm 85 - 90%) và mùa khô (10 - 15%).
  • Dân số và hạ tầng xã hội: Dân số năm 2003 đạt 2 triệu người (92% sống ở nông thôn, 30.100 người dân tộc Mường, Dao tại 9 xã miền núi); lực lượng lao động trong độ tuổi là 1,5 triệu người (70% thuộc nông nghiệp); toàn tỉnh có 120 làng nghề truyền thống với hơn 20 vạn thợ có tay nghề. Tỷ lệ điện lưới phủ kín 99% số xã, 100% số xã có đường giao thông và thông tin liên lạc (5,6 máy điện thoại/100 hộ dân), chiều dài kiên cố hóa kênh mương dẫn đầu khu vực với 523 km (năm 2001) và 400 km (năm 2002).
Nhóm đất / Loại đất chính Ký hiệu Diện tích (ha) Tỷ lệ trong diện tích tự nhiên (%) Đặc điểm phân bố và sử dụng
Đất phù sa được bồi Pb 17.030,00 8,00 Phân bố ở bãi bồi ngoài đê và một số vùng phân lũ
Đất phù sa không được bồi P 51.392,00 24,00 Phân bố rộng theo dải đê sông Hồng, sông Đà, sông Đáy
Đất phù sa gley Pg 51.551,00 24,01 Phân bố ở địa hình thấp, ngập úng nông trong thời gian dài
Đất nâu vàng trên phù sa cổ Fp 20.603,00 10,00 Phân bố vùng đồi thấp, độ dốc dưới 15%, thích hợp cây lâu năm
Đất đỏ vàng trên đá phiến sét Ff 10.873,00 5,00 Phân bố vùng đồi núi lượn sóng, trồng cây công nghiệp, rừng

Về thực trạng chuyển dịch ngành nông nghiệp:

  1. Biến động đất nông nghiệp: Quy hoạch giai đoạn 2000 - 2010 ghi nhận diện tích đất nông nghiệp giảm 399,04 ha; trong đó diện tích vườn tạp giảm 22,88%, đồng cỏ chăn nuôi giảm 16,87% (từ 565,73 ha xuống 470,53 ha), trong khi đất trồng cây lâu năm tăng thêm 2.358,68 ha (tăng 87,0%) và đất mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng thêm 1.598,97 ha (tăng 24,02%).
  2. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp (giá cố định 1994): Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần từ 63,49% (năm 2001) xuống 62,70% (năm 2002) và đạt 61,78% (năm 2003); tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 35,29% (năm 2001) lên 35,62% (năm 2002) và đạt 35,85% (năm 2003); ngành dịch vụ nông nghiệp tăng từ 1,22% (năm 2001) lên 1,68% (năm 2002) và 2,37% (năm 2003) với tốc độ tăng trưởng giá trị đạt 46,17% trong năm 2003.
  3. Chuyển dịch nội bộ ngành trồng trọt: Tỷ trọng diện tích cây lương thực giảm từ 84,23% (năm 2001) xuống 82,51% (năm 2003), diện tích gieo trồng giảm 600 ha (-0,33%); diện tích cây công nghiệp tăng từ 16,2 nghìn ha (7,43%) lên 19,7 nghìn ha (8,90%), sản lượng đạt 27 nghìn tấn; diện tích rau thực phẩm mở rộng lên 19,0 nghìn ha (8,59%), sản lượng năm 2003 đạt 246,7 nghìn tấn (tăng 14,8 nghìn tấn so với năm 2002, tương đương tốc độ tăng trưởng 6%/năm).
Phân ngành / Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Tốc độ tăng 2003/2002 (%)
Tổng GTSX toàn ngành nông nghiệp (tỷ đồng) 3.861,74 - - 105,10
- Tỷ trọng Trồng trọt (%) 63,49 62,70 61,78 103,56
- Tỷ trọng Chăn nuôi (%) 35,29 35,62 35,85 105,87
- Tỷ trọng Dịch vụ nông nghiệp (%) 1,22 1,68 2,37 146,17
Cơ cấu diện tích ngành Trồng trọt (1.000 ha) 218,20 221,25 221,30 100,04
- Cây lương thực: Diện tích (1.000 ha) 138,80 183,20 182,60 99,67
- Cây lương thực: Tỷ trọng diện tích (%) 84,23 82,82 82,51 -
- Cây công nghiệp: Diện tích (1.000 ha) 16,20 19,10 19,70 103,05
- Cây công nghiệp: Tỷ trọng diện tích (%) 7,43 8,63 8,90 -
- Cây rau thực phẩm: Diện tích (1.000 ha) 18,20 18,90 19,00 100,53
- Cây rau thực phẩm: Tỷ trọng diện tích (%) 8,34 8,55 8,59 -

Chương III: Phương hướng và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Tây

Chương III xác định định hướng tổng thể là chuyển đổi nền sản xuất nông nghiệp thuần nông, độc canh sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, sinh thái và gắn kết trực tiếp với thị trường tiêu thụ của Thủ đô Hà Nội cũng như chế biến xuất khẩu.

Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu:

  • Điều chỉnh cơ cấu cây trồng: Thu hẹp diện tích lúa độc canh kém hiệu quả; đẩy mạnh sản xuất ngô, khoai làm thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu chế biến; mở rộng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả đặc sản, cây dược liệu và rau màu vụ đông; cải tạo hệ thống vườn tạp thành vườn kinh tế chuyên canh.
  • Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng hàng hóa: Tăng quy mô và chất lượng đàn bò lai Sind, bò sữa; phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc chất lượng cao; giảm tỷ trọng đàn trâu; đẩy mạnh chăn nuôi gia cầm lấy trứng và lấy thịt theo phương thức bán công nghiệp, công nghiệp kết hợp nuôi thả vườn.
  • Phát triển dịch vụ và công nghệ sau thu hoạch: Đẩy mạnh tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp (thủy lợi, bảo vệ thực vật, thú y, tiêu thụ sản phẩm); xây dựng hạ tầng bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm tổn thất cho nông dân.
  • Đổi mới tổ chức sản xuất và thành phần kinh tế: Khuyến khích kinh tế hộ chuyển đổi sang mô hình kinh tế trang trại có quy mô liên kết; chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã dịch vụ kiểu mới; thực hiện rà soát, sắp xếp, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả trong ngành nông nghiệp.
  • Đầu tư hạ tầng kỹ thuật và khoa học công nghệ: Tiếp tục chương trình kiên cố hóa kênh mương, nâng cấp trạm bơm điện, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho hơn 90% diện tích; ứng dụng công nghệ sinh học và khảo nghiệm giống mới có năng suất, chất lượng cao; tăng cường phân bổ nguồn vốn đầu tư công cho nông nghiệp và cải thiện cơ chế tín dụng cho hộ nông dân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể:

  1. Về mặt học thuật và lý luận: Hệ thống hóa toàn diện các khái niệm, quy luật kinh tế và đặc trưng của quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xác lập bộ chỉ tiêu định lượng đánh giá trình độ và hiệu quả chuyển dịch.
  2. Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh dữ liệu tổng thể và chi tiết về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hà Tây giai đoạn 2000 - 2003. Kết quả chỉ ra sự dịch chuyển cơ cấu theo xu hướng giảm tỷ trọng trồng trọt (từ 63,49% xuống 61,78%), tăng tỷ trọng chăn nuôi (từ 35,29% lên 35,85%) và tăng tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp (từ 1,22% lên 2,37%). Trong nội bộ ngành trồng trọt, diện tích cây lương thực giảm 600 ha, nhường chỗ cho cây công nghiệp (đạt 19,7 nghìn ha) và rau thực phẩm (đạt 19,0 nghìn ha, sản lượng đạt 246,7 nghìn tấn năm 2003).
  3. Về mặt chính sách: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa quy hoạch đất đai, cơ cấu giống cây trồng - vật nuôi, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp và hoàn thiện thể chế kinh tế tập thể, làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện dựa trên chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2000 - 2003 với phạm vi tiếp cận chuyên sâu theo nghĩa hẹp của ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp), chưa mở rộng phân tích chuyên sâu phân ngành lâm nghiệp và thủy sản. Do điều kiện khảo sát thực tế tại thời điểm nghiên cứu, đề tài chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng hóa mức độ tác động của từng chính sách tín dụng và thị trường đối với tốc độ chuyển dịch cơ cấu. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá chuỗi giá trị nông sản liên vùng Hà Tây - Hà Nội và phân tích hiệu quả kinh tế - sinh thái của các vùng chuyên canh sau khi dồn điền đổi thửa.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn, Quản lý Kinh tế và Địa lý Kinh tế. Nội dung Chương I cung cấp khung lý thuyết chuẩn tắc và kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Thái Lan, Nam Định, Từ Liêm. Chương II là nguồn tư liệu lịch sử - kinh tế giá trị về hiện trạng sử dụng đất đai, hệ thống thủy văn hồ đập (Suối Hai, Đồng Mô, Quan Sơn) và cơ cấu nông nghiệp tỉnh Hà Tây giai đoạn trước năm 2008.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi tiếp cận ngành nông nghiệp của đề tài được giới hạn như thế nào?
Tác giả tiếp cận chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo nghĩa hẹp, giới hạn trong việc phân tích tương quan tỷ lệ và sự biến đổi giữa ba phân ngành chính: ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ nông nghiệp.

2. Cơ cấu giá trị sản xuất giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp của tỉnh Hà Tây thay đổi như thế nào từ năm 2001 đến năm 2003?
Tính theo giá cố định năm 1994: Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 63,49% (năm 2001) xuống 62,70% (năm 2002) và còn 61,78% (năm 2003); ngành chăn nuôi tăng từ 35,29% (năm 2001) lên 35,62% (năm 2002) và 35,85% (năm 2003); ngành dịch vụ nông nghiệp tăng từ 1,22% (năm 2001) lên 1,68% (năm 2002) và đạt 2,37% (năm 2003).

3. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hà Tây biến động ra sao trong định hướng giai đoạn 2000 - 2010?
Tổng diện tích đất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp với mức giảm 399,04 ha (-0,25%); diện tích vườn tạp giảm mạnh 22,88%; diện tích đồng cỏ chăn nuôi giảm 16,87% (tương ứng giảm 95,2 ha); ngược lại, diện tích đất trồng cây lâu năm tăng mạnh 2.358,68 ha (+87,0%) và diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng 1.598,97 ha (+24,02%).

4. Khóa luận đã phân tích các bài học kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp từ những địa phương và quốc gia nào?
Khóa luận phân tích mô hình quản trị hợp tác xã dịch vụ 3 cấp và ứng dụng công nghệ sinh học của Thái Lan, kinh nghiệm chuyển đổi cơ cấu nâng cao tỷ suất hàng hóa tại tỉnh Nam Định và kinh nghiệm chuyển dịch đất trồng lúa sang chuyên canh hoa, cây cảnh, bò sữa phục vụ đô thị tại huyện Từ Liêm (thành phố Hà Nội).

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã thực hiện một nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về thực trạng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp tỉnh Hà Tây giai đoạn 2000 - 2003. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực địa về đất đai, thủy văn, cây trồng và vật nuôi, tác giả đã làm rõ các thành tựu đạt được cũng như những điểm nghẽn của nền sản xuất nông nghiệp thuần nông manh mún. Hệ thống phương hướng và giải pháp được đề xuất trong công trình mang tính khả thi cao, đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của địa phương thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.