CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ngoài nước 1. Nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bền vững 1. Khái niệm Khái niệm về phát triển NNBV được phổ biến cùng với khái niệm PTBV từ sau Báo cáo Brundtland năm 1987.
Đến nay, khái niệm phát triển NNBV đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong đó có thể đề cập đến một số cách tiếp cận chính sau: Cách tiếp cận thứ nhất: coi phát triển NNBV là phương tiện để đạt được mục tiêu phát triển Theo hiệp hội nông nghiệp Mỹ phát triển NNBV là về lâu dài, nâng cao chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên, cung cấp cho nhu cầu lương thực và chất xơ cơ bản của con người, có hiệu quả kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn bộ nông dân và xã hội. Như vậy, phát triển NNBV là phương tiện để đạt được mục tiêu sau: (i) Bảo vệ môi trường. (ii) An ninh lương thực.
(iii) Hiệu quả kinh tế. (iv) Nâng cao chất lượng cuộc sống (trích dẫn bởi Keeney, 1989) Keeney (1989) cũng đồng ý với Hiệp hội nông nghiệp Mỹ ở việc duy trì phát triển NNBV sẽ góp phần duy trì chất lượng cuộc sống. Còn theo Pretty (2008), phát triển NNBV nhằm mục đích: (i) Không có tác động xấu đến môi trường; (ii) Nâng cao hiệu quả sản xuất và (iii) Cải thiện năng suất lương thực và có tác dụng phụ tích cực trên hàng hóa và dịch vụ môi trường. Trong khi đó, Guttenstein và cộng sự (2010) cho rằng phát triển NNBV sẽ tạo ra sự cân bằng thích hợp giữa tự cung cấp lương thực và tự chủ lương thực; tạo việc làm và thu nhập ở nông thôn, đặc biệt là xóa đói giảm nghèo; và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Phát triển NNBV về lâu dài: (a) Thỏa mãn nhu cầu thực phẩm và chất xơ của con người; (b) Nâng cao chất lượng môi trường; (c) Sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên không tái tạo và tài nguyên tại trang trại và tích hợp các chu trình và kiểm soát sinh học tự nhiên thích hợp; (d) Duy trì khả năng kinh tế của các hoạt động trang trại; và (e) Nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn bộ nông dân và xã hội (Velten và cộng sự, 2015). Như vậy, phát triển NNBV là phương tiện giúp đạt được các mục tiêu khác nhau của sự phát triển. Tùy từng giai đoạn phát triển và góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ hướng đến các mục tiêu khác nhau. Cách tiếp cận thứ hai coi phát triển NNBV là mục tiêu 15 Theo Francis và cộng sự (1987) thì phát triển NNBV là một chiến lược giúp người SXNN lựa chọn giống phù hợp điều kiện tự nhiên và có phương thức canh tác hiệu quả để giảm chi phí sản xuất, giảm thiểu tác động đến môi trường và gia tăng lợi nhuận một cách bền vững.
Như vậy tác giả đã đề cập đến 2 vấn đề trong phát triển NNBV là chọn sản phẩm sản xuất và phương thức sản xuất. Trong đó, chọn sản phẩm sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên; phương thức sản xuất phải đảm bảo 2 khía cạnh là hiệu quả về khía cạnh kinh tế và phải đảm bảo các vấn đề môi trường. Từ đó có thể rút ra khi điều kiện tự nhiên thay đổi thì người SXNN cũng sẽ phải thay đổi sản phẩm và phương thức sản xuất cho phù hợp. Phát triển NNBV là sự phát triển của công nghệ sản xuất và kĩ thuật canh tác để duy trì và nâng cao chất lượng tài nguyên đất và nước.
Đồng thời công nghệ sản xuất cũng dẫn đến sự thay đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi (Ruttan, 1988). Như vậy Ruttan (1988) mới chỉ có quan điểm phát triển NNBV dưới góc độ thay đổi phương thức sản xuất để đảm bảo yếu tố môi trường. Cũng đề cập đến phương thức sản xuất, Carter (1989) cho rằng canh tác trong nông nghiệp được coi là bền vững nếu làm giảm thiểu việc sử dụng các đầu vào bên ngoài và tối đa hóa các đầu vào bên trong sẵn có. Quan niệm này cũng đồng tình với Francis và cộng sự (1987) về khía cạnh hiệu quả trong SXNN.
Tuy nhiên ông giới hạn phương thức sản xuất hiệu quả là chỉ sử dụng các yếu tố sẵn có. FAO đưa ra tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 về phát triển NNBV "là quá trình bảo tồn đất, nước, nguồn giống cây trồng và vật nuôi, không làm suy giảm chất lượng môi trường, phù hợp về mặt kĩ thuật, khả thi về mặt kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội". Quan niệm này của FAO đã đề cập đến 3 trụ cột của phát triển NNBV bao gồm: (i) Bảo vệ môi trường sinh thái dựa trên các kĩ thuật canh tác tối ưu. (ii) Đảm bảo về mặt kinh tế và (iii) Đảm bảo về mặt xã hội.
Dựa trên khái niệm phát triển NNBV của FAO, tùy từng bối cảnh khu vực và quốc gia khác nhau thì cách tiếp cận phát triển NNBV cũng khác nhau (Zhen và Routray, 2003). Đối với nhóm nước phát triển: Bowers (1995) lập luận rằng tại các nước phát triển thì các tiêu chí bền vững chính trong nông nghiệp là đa dạng hóa trong giới hạn của mặt hàng; đảm bảo về môi trường và hạn chế việc giảm chất dinh dưỡng do sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu (trích dẫn bởi Zhen và Routray, 2003). Đối với nhóm nước đang phát triển thì quan niệm phát triển NNBV là phải duy trì sản xuất lương thực trong khi nguồn tài nguyên đang hạn hẹp dần. Do vậy nguyên tắc quan trọng đánh giá phát triển NNBV tại các nước này là đảm bảo được năng suất vĩnh viễn trong khi bảo tồn được các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất và nước (Zhen và Routray, 2003) 16 Như vậy, theo cách tiếp cận này thì khái niệm phát triển NNBV đều dựa trên ba trụ cột của tính bền vững là: môi trường, xã hội và kinh tế trong đó việc thay đổi phương thức sản xuất và cơ cấu sản xuất là cách thức để đạt được mục tiêu phát triển NNBV.
Việc phân loại tiếp cận phát triển NNBV như trên cũng chỉ mang tính tương đối vì bản thân nông nghiệp PTBV thì nó cũng có có tác động lan tỏa đến các khía cạnh khác của sự phát triển. Cụ thể khi phương thức sản xuất của nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường thì không những bảo vệ môi trường nông nghiệp mà còn bảo vệ môi trường phi nông nghiệp. Hiệu quả SXNN cao sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân góp phần xóa đói giảm nghèo cũng như giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp. Như vậy, cần phải tiếp cận khái niệm phát triển NNBV ở cả trên cả hai góc độ vì bản thân khi đề cập đến tính bền vững thì nội tại ngành nông nghiệp phải bền vững và nó phải có tác động lan tỏa đến việc thực hiện các mục tiêu khác.
Tiêu chí đánh giá Dựa trên khái niệm về phát triển NNBV, các nghiên cứu đã đánh giá sự phát triển NNBV trên các phạm vi khác nhau như: quốc gia, địa phương, trang trại. Cụ thể một số tiêu chí được sử dụng để đánh giá như sau. Phần lớn các nghiên cứu sự tập trung đo lường và đánh giá tiến độ hướng tới bền vững ở cấp quốc gia (Veleva và Ellenbecker, 2000; OECD, 2001). Để đánh giá phát triển NNBV cấp quốc gia có rất nhiều tiêu chí: (1) Về kinh tế: năng suất bình quân (Hayati, 1995; Nambiar và cộng sự, 2001; Rasul và Thapa, 2003); Chi phí đầu vào (Becker, 1997; Herzog và Gotsch, 1998); lợi nhuận (Rasul và Thapa, 2003; Van Passel và cộng sự, 2006; Gafsi và cộng sự, 2006) ; (2) Về xã hội: Điều kiện sống và làm việc (Van Cauwenbergh và cộng sự, 2007); Công bằng xã hội (Becker, 1997; Rasul và Thapa, 2003); trình độ giáo dục của nông dân (Herzog và Gotsch, 1998; Van Cauwenberg và cộng sự, 2007); (3) Về môi trường: đa dạng hóa cây trồng (Nambiar và cộng sự, 2001; Rasul và Thapa, 2003); quản lý nguồn nước và hạn chế sử dụng phân bón hóa học (Hayati, 1995; Van Cauwenbergh và cộng sự, 2007); chống xói mòn đất (Hayat, 1995; Rasul và Thapa, 2003).
Phương pháp Tiêu chuẩn, nguyên tắc và chỉ số bền vững (Sustainability Standards with Principles, Criteria and Indicators- PC&I) hay đánh giá tác động của môi trường (Environmental Impact Assessment - EIA) được dùng để đánh giá tại cấp độ này (Van Cauwenbergh và cộng sự, 2007) Bền vững địa phương/vùng là cấp độ thứ hai được đề cập đến. Sự khác nhau về đặc điểm tự nhiên, nguồn lực, chất lượng nhân lực trong cơ cấu tổ chức bộ máy, vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) của các địa phương đã dẫn đến có những tiêu chí khác nhau về NNBV. Các tiêu chí phản ánh phát triển NNBV ở cấp độ này được luận án tổng hợp tại bảng 1.1 dưới đây: 17 Bảng 1.