Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thành phố Thái Nguyên từ năm 2010-2013. Chương 4: Định hƣớng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1.
Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1. Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế 1.Khái niệm về cơ cấu kinh tế Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cơ cấu kinh tế. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống cơ cấu kinh tế thì: Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau cả về mặt số lƣợng và chất lƣợng trong những không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của một nền kinh tế xã hội và vận động hƣớng vào mục tiêu nhất định.Mác: “cơ cấu kinh tế xã hội là toàn thể những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lƣợng sản xuất vật chất”(1). Nhƣ vậy, bản chất của cơ cấu kinh tế là các mối liên hệ kinh tế tất yếu, phổ biến trong mỗi chỉnh thể kinh tế.
Tuy nhiên cơ cấu kinh tế biểu hiện, phản ánh ra ngoài bằng quy mô, tỉ lệ, tỷ trọng, hiệu quả và xu hƣớng vận động của mỗi thành phần, bộ phận của nền kinh tế. Theo Giáo trình kinh tế đầu tƣ (Nxb Đại học KTQD năm 2007): Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, đƣợc biểu hiện cả về mặt chất và mặt lƣợng, tùy thuộc mục tiêu của nền kinh tế (2). Do đó có thể định nghĩa: Cơ cấu kinh tế là tỷ trọng giữa những bộ phận, giữa các ngành, các lĩnh vực trong một chỉnh thể kinh tế hợp lý. Các bộ phận kinh tế ấy có mối quan hệ biện chứng trong mối quan hệ giữa lực lƣợng sản xuất với quan hệ sản xuất ở thời kỳ phát triển nhất định của xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 Việc hình thành cơ cấu kinh tế đƣợc diễn ra theo hai quá trình tự phát và có kế hoạch. Ngày nay để thực hiện đƣợc mục tiêu tổng quát trong phát triển kinh tế, chính phủ các nƣớc đã chủ động xác định cơ cấu kinh tế trong chiến lƣợc phát triển của mình, giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế luôn là trọng tâm của việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế các nƣớc. Các đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế Một là, cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan Cơ cấu kinh tế đƣợc hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội. Một cơ cấu kinh tế trong từng thời kỳ của từng ngành, từng địa phƣơng và trong cả nƣớc bao giờ cũng đƣợc xây dựng trên cơ sở tiếp thu những ƣu điểm của cơ cấu kinh tế thời kỳ trƣớc để lại.
Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, về sự hoạt động của các quy luật kinh tế đặc thù, của các phƣơng thức sản xuất sẽ quyết định tính khác biệt về cơ cấu kinh tế của mỗi vùng, mỗi nƣớc. Vì vậy, cơ cấu kinh tế phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển, nhƣng sự biểu hiện cụ thể phải thích ứng với đặc thù của mỗi nƣớc, mỗi vùng về tự nhiên, kinh tế và lịch sử. Không có một cơ cấu mẫu chung cho mọi phƣơng thức sản xuất, mọi vùng kinh tế hoặc đại diện chung cho nhiều nƣớc khác nhau. Mỗi quốc gia, mỗi vùng phải lựa chọn cơ cấu kinh tế cho phù hợp với sự phát triển.
Hai là, cơ cấu kinh tế có mối quan hệ cân đối, đồng bộ, có tính lịch sử, cụ thể Cơ cấu kinh tế vốn có mối quan hệ cân đối đồng bộ giữa các bộ phận kinh tế nằm trong một tổng thể bao gồm hệ thống lớn, hệ thống vừa và hệ thống nhỏ gắn bó chặt chẽ với nhau. Sở dĩ nhƣ vậy bởi chính các bộ phận kinh tế trong một hệ thống có mối quan hệ mật thiết tác động lẫn nhau theo quy luật đặc thù. Một cơ cấu kinh tế gồm có nhiều bộ phận kinh tế khác nhau, có bộ phận kinh tế chủ yếu, cũng có bộ phận kinh tế thứ yếu xếp theo sự ƣu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 tiên khác nhau. Bộ phận kinh tế chủ yếu (then chốt, mũi nhọn) quyết định nhiều đến quy mô và nhịp độ phát triển của nền kinh tế, nhƣng nó cũng đòi hỏi sự ƣu tiên về vốn, khoa học công nghệ và các chính sách.
Sự tồn tại bộ phận kinh tế then chốt, mũi nhọn xuất phát từ nguyên tắc lợi thế so sánh của bộ phận kinh tế này so với bộ phận kinh tế khác để đạt hiệu quả cao trong khi các yếu tố sản xuất có hạn. Do đó nếu bố trí vốn đầu tƣ một cách dàn trải trên tất cả các bộ phận kinh tế là đi ngƣợc nguyên tắc hiệu quả, còn ngƣợc lại, nếu tập trung quá mức đầu tƣ cho một bộ phận kinh tế lại gây ra tình trạng mất cân đối của cơ cấu. Bởi vậy cần có sự đồng bộ, cân đối khi đầu tƣ vào các lĩnh vực, ngành kinh tế để mang lại hiệu quả cao nhất. Ba là, cơ cấu kinh tế có tính đa dạng và tính mở Cơ cấu kinh tế không thể cố định mà phải có sự biến đổi, điều chỉnh thích hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội và tiến bộ của khoa học công nghệ để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát triển.
Cơ cấu kinh tế phát triển và biến đổi chặt chẽ gắn bó với sự phát triển và biến đổi của lực lƣợng sản xuất và phân công lao động xã hội. Lực lƣợng sản xuất ngày càng phát triển, con ngƣời ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, công nghệ ngày càng tiên tiến, chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội ngày càng cao, tất yếu sẽ dẫn đến cơ cấu kinh tế cũng ngày càng hoàn thiện. Bên cạnh đó, sự vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế cũng có quan hệ chặt chẽ với sự vận động và biến đổi của các bộ phận kinh tế. Đây là mối quan hệ chuyển hoá lẫn nhau.
Bộ phận kinh tế thay đổi phát triển hơn tất yếu kéo theo cơ cấu kinh tế ngày một biến đổi, hoàn thiện hơn. Từ sự biến đổi về lƣợng dẫn đến sự biến đổi về chất, một cơ cấu kinh tế mới ra đời tiến bộ hơn để phù hợp với sự biến đổi đó, nó phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế không thể luôn luôn thay đổi một cách số học mà nó phải tƣơng đối ổn định trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo sự phù hợp với quá trình hình thành và phát triển của nó một cách khách Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Nếu thay đổi thƣờng xuyên cơ cấu kinh tế sẽ tạo ra sự không ổn định trong sản xuất, đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, gây lãng phí, tổn thất cho nền kinh tế.
Bốn là, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình, luôn biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện Không phải cơ cấu kinh tế mới nào hình thành ngay một lúc đã có thể thay thế cơ cấu kinh tế cũ đƣợc. Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế phải là quá trình tích luỹ về lƣợng, thay đổi về lƣợng đến mức độ nhất định mới dẫn đến thay đổi về chất. Trong quá trình đó, cơ cấu kinh tế cũ thay đổi dần dần để chuyển thành cơ cấu kinh tế mới. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sự tác động trực tiếp rất quan trọng của chủ thể lãnh đạo, quản lý.
Sự nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quản lý kinh tế đều có hại cho sự phát triển của nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất thiết phải là một quá trình, nhƣng không phải là một quá trình tự phát với các bƣớc tuần tự mà ngƣợc lại, con ngƣời bằng những hiểu biết sâu sắc về thực tế hoàn toàn có thể tạo ra những tiền đề, tác động cho quá trình đó diễn ra nhanh và đúng hƣớng. Phân loại cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế quốc dân có ba bộ phận cơ bản hợp thành đó là: Cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật; cơ cấu theo vùng, lãnh thổ; cơ cấu theo thành phần kinh tế. - Cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tƣơng quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành phản ánh một phần trình độ phân công lao động xã hội của một đất nƣớc. Khi phân tích cơ cấu ngành kinh tế của một quốc gia ngƣời ta thƣờng phân tích ba nhóm ngành chính đó là: + Nhóm ngành nông nghiệp (bao gồm các ngành nông, lâm, ngƣ nghiệp) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 + Nhóm ngành công nghiệp (bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng) + Nhóm ngành dịch vụ ( bao gồm thƣơng mại, dịch vụ, du lịch.) Sự vận động của các ngành kinh tế và mối liên hệ của nó vừa tuân theo những đặc điểm chung của sự phát triển sản xuất xã hội, lại vừa mang những nét đặc thù của mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia. Cơ cấu kinh tế theo ngành thể hiện mối quan hệ giữa các ngành và phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỉ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ƣu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.