phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Những vấn đề chung và kinh nghiệm quốc tế về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Chƣơng 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở Việt Nam trong thời gian qua Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy qúa trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn ở Việt Nam trong thời gian tới z 5 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn 1. Khái niệm, mối quan hệ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động 1.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tượng. Cơ cấu được hiểu như một tập hợp những quan hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành của đối tượng xem xét. * Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân: Là một phạm trù kinh tế phản ánh cấu trúc và các mối quan hệ bên trong của nền kinh tế, theo đó nền kinh tế được coi là một hệ thống, có tính lịch sử trong một giai đoạn nhất định. Cơ cấu kinh tế đứng trên góc độ kinh tế quốc dân là một phạm trù rộng biểu thị theo những phạm vi và khía cạnh khác nhau.
Đó là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu không chỉ về số và tỷ lệ giữa các yếu tố hợp thành-biểu hiện sự tăng trưởng của hệ thống mà còn là những mối quan hệ cơ cấu về chất giữa các yếu tố-biểu hiện sự phát triển của hệ thống. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu cả về lượng và về chất giữa các bộ phận hợp thành (cả kinh tế kỹ thuật và kinh tế-xã hội). Những bộ phận đó nhất thiết phải gắn bó hữu cơ với nhau, tác động phụ thuộc lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất hay gián tiếp trong khâu lưu thông. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển ổn định và tăng trưởng bền vững khi nó z 6 có cơ cấu cân đối hợp lý.
Cơ cấu kinh tế hợp lý là tổng thể các quan hệ kinh tế hợp thành nền kinh tế, gắn với vị trí, trình độ công nghệ, quy mô, tỷ trọng tương ứng của từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận, gắn với điều kiện kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội đã được xác định. Cơ cấu kinh tế là một phạm trù khách quan. Tính khách quan của cơ cấu kinh tế thể hiện ở chỗ, trình độ phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội quyết định sự hình thành cơ cấu kinh tế. Một cơ cấu kinh tế như thế nào, xu thế chuyển dịch của nó ra sao phụ thuộc vào những điều kiện khách quan về tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định.
Tương ứng với những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định, tất yếu có một cơ cấu kinh tế phù hợp.Mác: “trong sự phân công xã hội thì con số tỷ lệ là một tất yếu không sao tránh khỏi, một sự tất yếu thầm kín, yên lặng”. Điều đó thể hiện ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, mỗ điều kiện phát triển kinh tế đều có thể xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế hợp lý đó là một cơ cấu kinh tế phải đảm bảo: Phản ánh được đúng quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Đặc biệt là các quy luật kinh tế như: quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật tái sản xuất…Đảm bảo khai thác tối đa các tiềm năng nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực của cả nước, của ngành, của địa phương và lãnh thổ.
Sử dụng được ngày càng nhiều lợi thế tuyết đối và lợi thế so sánh giữa trong nước và nước ngoài, giữa các vùng và các khu vực. Phản ánh được xu hướng phát triển của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật, xu hướng toàn cầu hoá và thương mại quốc tế. Đó là một cơ cấu kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao. z 7 Tóm lại cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế đảm bảo được tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững và đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
Nền kinh tế sẽ phát triển thuận lợi nếu cơ cấu kinh tế thực tế càng gần với cơ cấu kinh tế hợp lý. Mặt khác, quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng giai đoạn đều chịu sự tác động của con người, trong đó sự tác động của thể chế chính sách là quan trọng nhất. Những tác động đó đã làm thay đổi các quan hệ kinh tế- xã hội theo đó cơ cấu kinh tế được hình thành. Do vậy con người trên cơ sở nắm vững và tôn trọng yếu cầu của các quy luật khách quan, có thể tác động, điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngày càng gần với cơ cấu kinh tế hợp lý hơn.
Cơ cấu kinh tế có tính lịch sử xã hội cụ thể: ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định, tính chất hợp lý của cơ cấu kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử kinh tế-xã hội khác nhau. Ngay cả những nước, những vùng có trình độ phát triển lực lượng sản xuất ngang nhau, sự giống nhau của các quan hệ xã hội, tỷ lệ trong cơ cấu kinh tế không hẳn bao giờ cũng dẫn đến những quan hệ về chất như nhau giữa các nền kinh tế. Điều này cho thấy không thể áp dụng máy móc những bước thay đổi tỷ lệ số lượng của cơ cấu kinh tế nước này, vùng này cho cơ cấu kinh tế một nước khác, vùng khác có cùng một trình độ phát triển lực lượng sản xuất nhưng khác nhau về điều kiện chính trị, xã hội. Do vậy việc tham khảo và vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của các nước khác trong việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý là rất quan trọng.
Cơ cấu kinh tế có tính chất biến động: Tính biến động của cơ cấu kinh tế bắt nguồn từ sự biến động và phát triển không ngừng của bản thân các yếu tố cấu thành nền kinh tế và mối quan hệ giữa chúng. Trong cơ cấu kinh tế hiện hữu luôn chứa đựng những tiền đề cho sự xuất hiện cơ cấu kinh tế mới. Tính biến động của cơ cấu kinh tế cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình, z 8 quá trình đó làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Chủ thể của nền kinh tế trên cơ sở nhận thức đúng quy luật, có thể tác động nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
* Nội dung chủ yếu của cơ cấu kinh tế: Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân hay của một vùng có nội dung rộng lớn, đa dạng bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ của một hệ thống kinh tế. Nói cách khác có nhiều cách phân loại cơ cấu kinh tế theo từng tiêu chí kinh tế như: - Cơ cấu kinh tế ngành: Ngành kinh tế là tổng thể những hoạt động kinh tế giống nhau hoặc gần giống nhau của các đơn vị trong nền kinh tế quốc dân để sản xuất ra những sản phẩm hoặc dịch vụ có những đặc tính chung nhất định. Cơ cấu kinh tế ngành được hình thành trên cơ sở phân công lao động theo ngành, là kết quả của sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu kinh tế ngành là tổ hợp các ngành hợp thành, là các nhân tố tạo thành ngành kinh tế, là quan hệ hữu cơ giữa các nhân tố tạo thành ngành kinh tế và trong nội bộ ngành đó.
Cơ cấu kinh tế ngành, xét về mặt số lượng là biểu hiện quan hệ tỷ lệ giá trị, tỷ trọng của ngành đó so với ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Quan hệ tỷ lệ, tỷ trọng về mặt giá trị của một ngành nào đó trong cơ cấu ngành luôn luôn có sự thay đổi, chuyển dịch. Về mặt chất lượng, cơ cấu ngành biểu thị sự tác động qua lại bên trong giữa các ngành với nhau. Các quan hệ này có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển ngành.
Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một quốc gia, một vùng. - Cơ cấu kinh tế vùng: Cơ cấu kinh tế vùng phản ánh sự phân công lao z 9 động xã hội về mặt không gian địa lý, phân công lao động theo vùng có nghĩa là bố trí các ngành sản xuất trên những đơn vị lãnh thổ thích hợp để khai thác tốt nhất các điều kiện đặc thù của mình. Do vậy, cơ cấu kinh tế vùng là mối quan hệ giữa các ngành, các thành phần kinh tế trên phạm vi lãnh thổ. Cơ cấu kinh tế vùng là sự thể hiện cơ cấu kinh tế ngành về không gian, vị trí địa lý được bố trí phù hợp với sự phân công và chuyên môn hoá trong nền kinh tế, tạo lên tiền đề của mối liên hệ giữa các vùng.
Cơ cấu kinh tế vùng không tách rời cơ cấu kinh tế ngành của cả nước và cơ cấu kinh tế các vùng khác. - Cơ cấu thành phần kinh tế: Cơ cấu thành phần kinh tế là mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế tồn tại trong nền kinh tế quốc dân, dựa trên những quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất. Sự hình thành cơ cấu thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay bắt nguồn từ sự tồn tại khách quan chế độ đa sơ hữu trong thời kỳ quá độ. Nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần bao gồm kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong đó, thành phần kinh tế Nhà nước giữa vai trò chủ đạo và làm chức năng của một công cụ điều tiết vĩ mô.