CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Các khái niệm Để hiểu khái niệm cơ cấu kinh tế, trước hết cần làm rõ khái niệm cơ cấu. Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, “cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật.
Như vậy, có thể thấy có nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của khách thể và các hệ thống. Cơ cấu kinh tế “Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định”. Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành của mỗi bộ phận và quan hệ tương tác giữa các bộ phận đó trong quá trình tái sản xuất xã hội. Một cách tiếp cận khác cho rằng: “ Cơ cấu kinh tế là một tổng thể bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, nó thể hiện đầy đủ cả hai mặt định tính và định lượng, cả hai mặt chất lượng và số lượng, phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế”.
Như vậy, về mặt bản chất cơ cấu kinh tế biểu hiện trên các mặt: - Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế của một quốc gia. - Số lượng và tỉ trọng của các nhóm ngành và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước. - Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố… hướng vào các mục tiêu đã xác định. Mặt khác, cơ cấu kinh tế thể hiện 3 khía cạnh: - Tính khách quan của cơ cấu kinh tế: Một cơ cấu kinh tế hợp lí là một cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật vận động khách quan của nền kinh tế quốc dân.
- Tính lịch sử cụ thể về thời gian, không gian và điều kiện kinh tế xã hội: Mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, địa phương khác nhau thì cơ cấu kinh tế khác nhau. Việc xây dựng cơ cấu kinh tế phải dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền, địa phương trong một thời kì nhất định. - Tính có mục tiêu trong từng giai đoạn phát triển nhất định: Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng miền, địa phương trong từng giai đoạn quyết định hình thành cơ cấu kinh tế trong thời kì đó. Cơ cấu kinh tế là thuộc tính có ý nghĩa quyết định của nền kinh tế, nó phản ánh tính chất và trình độ phát triển của nền kinh tế, phản ánh số lượng và chất lượng của các phần tử hợp thành trong mối liên kết chặt chẽ với nhau để tạo nên hệ thống kinh tế vận động và phát triển không ngừng.
Cơ cấu kinh tế biểu hiện hình thức của nó thông qua tỉ trọng của các phần tử tạo nên cơ cấu và biểu hiện qua nội dung, các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành. Chính quan hệ này sẽ chi phối sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng của tất cả các phần tử tạo nên cơ cấu. Và cuối cùng là đem lại kết quả và hiệu quả cho nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế thường có ba phương diện hợp thành.
Đó là: - Cơ cấu ngành kinh tế - Cơ cấu thành phần kinh tế - Cơ cấu lãnh thổ Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành hợp thành tương quan tỉ lệ , biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động giữa của quốc gia. Cho đến nay, về cơ bản thế giới có hai hệ thống phân ngành kinh tế. Đó là Hệ thống sản xuất vật chất (Material Production System – MPS) – được áp dụng với nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung hóa và Hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts – SNA) – được áp dụng với nền kinh tế thị trường.
Theo hệ thống tài khoản quốc gia, nền kinh tế được phân thành 3 khu vực: + Khu vực I là nhóm ngành nông lâm thủy sản. + Khu vực II là nhóm ngành công nghiệp, xây dựng. + Khu vực III là nhóm ngành dịch vụ. Trong mỗi khu vực lại phân chia thành các ngành kinh tế cấp 1, dưới ngành cấp 1 lại phân cấp thành cấp 2, cấp 3, cấp 4 … Sự phân chia các ngành như trên không phải là cách duy nhất mà có sự khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế và cơ chế quản lí của mỗi nước nhưng có một điểm chung là thông qua quá trình vận động và mối liên hệ giữa các ngành, có thể tìm được cách duy trì một cơ cấu hợp lí và có thể lựa chọn những lịnh vực cần ưu tiên đầu tư các nguồn lực nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển hiệu quả.
Đối với nước ta, theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTG ngày 22/1/2007 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, nền kinh tế nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1, 88 ngành kinh tế cấp 2, 242 ngành kinh tế cấp 3, 437 ngành kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cấp 5. Cơ cấu thành phần kinh tế gắn liền với hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và xu hướng chung là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu ngày càng đa dạng. Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là một thành phần kinh tế. tuy nhiên, ngày nay giữa các hình thức sở hữu có sự đan xem lẫn nhau, tùy thuộc vào sự phát triển của các nền kinh tế, dẫn đến sự phân chia nền kinh tế theo các thành phần kinh tế ngày càng phức tạp.
Từ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong quá trình vận động người ta có thể thấy được xu hướng phát triển và vai trò của từng thành phần kinh tế để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tác động phù hợp với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế. Cơ cấu lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách sát thực và phù hợp với đặc điểm của từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ. Tùy theo mục đích quản lí mà có thể phân chia lãnh thổ của một quốc gia thành các vùng với những đặc trưng về mặt kinh tế khác nhau.
Trong nông nghiệp, việc phân chia lãnh thổ thành các vùng sinh thái khác nhau mang ý nghĩa hết sức quan trọng vì đó là cơ sở để xác lập được cơ cấu cây trồng và vật nuôi hợp lí, cho phép khai thác có hiệu quả các thế mạnh của lãnh thổ từ đó xây dựng vùng sản xuất với quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Xác định cơ cấu kinh tế hợp lí và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế - xã hội ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lí kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế quốc dân, nhưng nó cũng mang tính độc lập tương đối. Vậy cơ cấu kinh tế nông nghiệp được hiểu: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ theo tỉ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Quá trình hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn liền với các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng không thể tách rời với quá trình hình thành và biến đổi của cơ cấu nền kinh tế.
Do đó, cơ cấu kinh tế nông nghiệp vừa có đặc điểm chung, vừa có đặc điểm riêng so với cơ cấu nền kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình phát triển kinh tế - xã hội là quá trình biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhưng trước hết là sự gia tăng năng lực sản xuất và sự chuyển dịch các nguồn lực được sử dụng vào quá trình sản xuất của các ngành. Xu hướng chung trong thực tế là khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỉ trọng sản phẩm nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỉ trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng lên, đến một trình độ nhất định thì tỉ trọng dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn so với công nghiệp. Để lí giải cho quá trình này, có hai lí do chính: Từ cuối thế kỷ XIX, E.
Engel đã nhận thấy rằng, khi thu nhập của các gia đình tăng lên, tỉ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm sẽ giảm xuống và cho sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, dẫn tới tỉ trọng của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội giảm xuống. Fisher (1867 - 1947) quan sát thấy, tiến bộ kĩ thuật có tác động đến thay đổi phân bố lao động vào ba khu vực của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nông dân tăng năng suất lao động.