CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ---- 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Những khái niệm cơ bản 1. “Cơ cấu kinh tế” và “Cơ cấu kinh tế ngành” Theo Từ điển Tiếng Việt : “Cơ cấu kinh tế (CCKT) là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”.
CCKT là một tổng thể kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định và trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định. CCKT là một hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó. CCKT không chỉ giới hạn ở các quan hệ giữa các ngành và có tính ổn định mà nó luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định được đặc trưng bằng những điều kiện cụ thể nhất định, phải điều chỉnh CCKT cho phù hợp [30, tr.
Xét trên tổng thể, CCKT bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế… trong đó cơ cấu ngành là then chốt. “Cơ cấu kinh tế ngành” (CCKTN) ngành là quan hệ tỷ lệ gắn bó hữu cơ, vừa nương tựa vào nhau, vừa chế ước lẫn nhau giữa các ngành và các phân ngành cũng như giữa doanh nghiệp trong nội bộ ngành và phân ngành. Cơ cấu ngành là bộ phận động nhất trong cơ cấu kinh tế nói chung. CCKTN là một bộ phận cơ bản cấu thành cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân; là quan hệ gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trong các ngành; là bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu kinh tế ngành quyết định trạng thái chung và tỷ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân.
CCKTN biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành, hình thành và biến đổi trong quá trình phân công lao động chung của xã hội, nó phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển lực lượng sản xuất của đất nước. Do đó cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế” và “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế” Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi và phát triển của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác để phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chuyển dịch CCKT không đơn thuần chỉ là sự thay đổi vị trí mà còn là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu, đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất một số ngành.
Trong quá trình phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT theo các xu hướng ngày càng hợp lý hơn và phù hợp hơn tạo đòn bẩy cho kinh tế phát triển nhanh và ổn định, mạnh. Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình làm biến đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp và dịch vụ hiện đại. Đó là quá trình làm tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (CCNKT) là quá trình thay đổi cấu trúc ngành của một nền kinh tế, xác lập một cấu trúc mới, hợp lý và có hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến sự thay đổi trong tỷ trọng cũng như sự tương tác giữa các ngành hoặc phân ngành đã hình thành trước đó. Sự thay đổi này nếu xem xét trong một khoảng thời gian xác định được thể hiện ở những điểm sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Thứ nhất, sự biến đổi về số lượng và chủng loại ngành trong nền kinh tế do sự xuất hiện thêm những ngành mới hoặc mất đi của một số ngành đã có. Thứ hai, sự biến đổi về tương quan, tỷ lệ giữa các ngành do sự tăng trưởng không đồng đều về quy mô và tốc độ giữa các ngành. Thứ ba, sự thay đổi trong quan hệ, tương tác giữa các ngành thể hiện bằng số lượng các ngành có liên quan lẫn nhau, hay quy mô đầu vào – đầu ra mà ngành này cung cấp cho ngành kia Quá trình chuyển dịch CCNKT diễn ra thường xuyên, liên tục cùng với sự vận động của nền kinh tế để phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.
Cơ cấu kinh tế ngành thường chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản, giảm tỷ trọng ngành nông- lâm – ngư nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tăng qui mô. Tốc độ tăng của ngành dịch vụ nhanh hơn ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản. Chuyển dịch CCNKT là kết quả của sự phân bổ hay di chuyển các nguồn lực như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn nguồn nhân lực, công nghệ…vào các ngành phát huy lợi thế so sánh của từng ngành và giữa các ngành tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Khi nguồn lực di chuyển đến một ngành sẽ tác động đến đầu ra của ngành (như sản lượng, năng suất lao động) dẫn đến sự thay đổi tỷ trọng của ngành so với trước và tất yếu tác động tới tăng trưởng năng suất của tổng thể nền kinh tế.
Quá trình di chuyển nguồn lực đó cũng làm thay đổi cơ cấu của chính bản thân nó như vốn, lao động giữa các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu của chính nguồn lực đó. Chuyển dịch CCNKT không chỉ là một xu hướng tất yếu, mà còn là một yêu cầu nhằm vào các mục tiêu: tăng trưởng, tạo việc làm, tăng thu nhập, tăng tích lũy vốn, công nghệ và sự phát triển con người, làm thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp”và “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp” Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp (CCKTNNN) là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất thuộc các lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể.
CCKTNNN hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, còn hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, một thời gian dài kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển. Ở những nước kém phát triển, tỷ trọng trồng trọt trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, đại bộ phận nông dân chủ yếu tham gia lao động trồng trọt, chỉ số ít là kết hợp chăn nuôi. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ và tiến bộ khoa học kĩ thuật đặc biệt là nông nghiệp hiện đại, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp được cải biến nhanh chóng theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong mỗi nhóm ngành lại được chia thành ngành hẹp hơn, chẳng hạn ngành trồng trọt được chia thành ngành trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm, …ngành chăn nuôi lại được chia thành ngành chăn nuôi tiểu gia súc, đại gia súc, gia cầm. Chuyển dịch CCKTNNN là sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành và nhóm ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp. Xu hướng chuyển dịch CCKTNNN ở nước ta hiện nay là hướng tới một nền nông nghiệp hàng hóa, sản xuất thâm canh, đa dạng hóa theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị.Trong ngành trồng trọt, xu hướng độc canh cây lương thực được hạn chế dần, thay vào đó là việc trồng những cây có năng suất cao, có giá trị hàng hóa lớn. Trong ngành chăn nuôi cũng có sự thay đổi cơ cấu, những vật nuôi có giá trị dinh dưỡng tốt, phù hợp với yêu cầu thị trường được chú trọng phát triển.
Cần phân biệt sự khác nhau giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và nội bộ ngành theo đặc trưng kinh tế kỹ thuật của chúng để tạo ra hệ thống phân công lao động cho phù hợp, hướng tới xây dựng một cơ cấu ngành đa dạng, hợp lý phát triển các ngành có nhiều lợi thế theo hướng phục vụ nhu cầu thị trường, đồng thời kết hợp tối ưu giữa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Đối với cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm: Nhóm nhân tố tác động từ bên trong Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội: Thị truờng và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế. Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiên sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào.
Cũng như vậy, không có thị trường thì không có kinh tế hàng hoá. Thị trường và nhu cầu xã hội còn quy định chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, đến vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.