PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một vấn đề kinh điển và đã có rất nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan trên thế giới cũng như trong nước. Thực tế vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn là chủ đề đáng lưu tâm. Công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước nói chung hay trên địa bàn các địa phương nói riêng vẫn đòi hỏi nội dung cốt lõi về việc các địa phương thực hiện quá trình chuyển dịch các ngành với cơ cấu có phù hợp hay không, gắn với khai thác lợi thế, thực hiện hiệu quả các nguồn vốn, bộ máy công quyền hoạt động minh bạch hay nâng cao trình độ khoa học công nghệ.
Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho tất cả các địa phương với ba miền được phân định Bắc - Trung - Nam cùng các đặc trưng khác nhau hiện tại không còn phù hợp. Mặc dù đã có những bước chuyển biến trong quy hoạch, thu hút kêu gọi nhà đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu chuyển dịch ngành kinh tế phi nông nghiệp như Thanh Hóa, Hà Tĩnh hay Quảng Nam đã chuyển dịch tương đối hiệu quả sang ngành công nghiệp hay Quảng Bình, Đà Nẵng hoặc Khánh Hòa nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng tỷ trọng của ngành dịch vụ. Tuy nhiên, các địa phương còn lại với cùng chung các đặc điểm về địa lý, văn hóa - xã hội lại chưa làm được điều tương tự. Khu vực duyên hải miền Trung bao gồm các tỉnh, thành phố đồng bằng nằm ở miền Trung Việt Nam, đặc điểm chung của các tỉnh, thành phố này đó là đều tiếp giáp với biển.
Bên cạnh đó, địa hình đồng bằng bị cắt xẻ bởi các nhánh núi ăn sát ra biển, ví dụ như, dãy núi Hoành Sơn - đèo Ngang, dãy nũi Bạch Mã - đèo Hải Vân, dãy nũi Nam Bình Định - đèo Cả. Do đó, địa hình của vùng đồng bằng này mang tính chất chân núi - ven biển. Kinh tế biển từ xưa đến nay luôn được người dân ở dọc dài miền Trung tận dụng để nuôi sống bản thân hay sau này là phát triển kinh tế địa phương. Ngoài ra, hạ tầng giao thông với sân bay, cảng biển trải dài đều đặn trên các tỉnh thành cũng là những hỗ trợ đắc lực để khu vực nằm giữa đất nước này có thể mang đến một động lực phát triển mới, bắt nhịp với xu thế phát triển của hai đầu đất nước.
Khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế Chân Mây hay khu kinh tế Nhơn Hội đang được kỳ vọng trở thành những khu kinh tế trọng điểm, mang đến giá trị sản xuất cao. Được thời tiết ủng hộ và sự hiện hữu của các đảo lớn nhỏ do sự hình thành trong quá khứ mang đến cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiềm lực rõ ràng về phát triển du lịch, nổi bật trong số đó là Phong Nha - Kẻ Bàng, Đà Nẵng - Hội An, Vân Phong - Quy Nhơn - Nha Trang - Cam Ranh - Ninh Chữ - Mũi Né. Hơn nữa, với hệ thống cảng nước sâu như Đà 2 Nẵng, Quy Nhơn hay cảng biển đang được quy hoạch xây dựng tại vịnh Vân Phong là đầu mối giao thông, trạm trung chuyển giúp kích thích sự phát triển công nghiệp trong toàn vùng. Ngoài những điểm chung, sự khác biệt về khí hậu, thời tiết do cấu tạo địa chất, địa hình, vị trí với đường xích đạo, chí tuyến đã phân chia khu vực đồng bằng trải dài từ Bắc vào Nam của Việt Nam này thành hai vùng có phần riêng biệt, đó là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ.
Không có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dịch vụ như vùng Duyên hải phía Nam trong khu vực, khu vực Bắc Trung Bộ thời gian về trước tập trung chủ yếu về ngành nông nghiệp, tốc độ phát triển không đồng đều cùng với sự trì trệ thấy rõ trong kết quả kinh tế xã hội đang đặt ra một dấu hỏi lớn về năng lực tự thân phát triển của một vài tỉnh trong khu vực này. Khu vực cửa ngõ vào miền Trung này đang cần một luồng gió mới trong quy hoạch hay cơ chế để có được sự trỗi dậy đúng như kỳ vọng về tiềm năng tại vùng đất chứng kiến nhiều dấu ấn lịch sử của đất nước. Tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các địa phương bên cạnh những thành tựu của các địa phương cụ thể chưa đánh dấu được sức ảnh hưởng của việc liên kết các tỉnh/thành phố có địa giới hành chính cạnh nhau, mặt khác nhóm các địa phương trước năm 1990 cùng thuộc một địa phương có chung đặc điểm lịch sử và văn hóa - xã hội không có sự kết hợp hiệu quả nào nhằm thúc đẩy, hỗ trợ nhau trong việc định hướng phát triển các ngành kinh tế. Có thể kể ra như các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh trong quá trình phát triển gần đây bộc lộ rõ sự thiếu liên kết, khi Thanh Hóa và Hà Tĩnh dần bứt phá chứng tỏ quá trình tập trung phát triển ngành công nghiệp rõ ràng của hai địa phương khi tỷ trọng GRDP ngành này đến năm 2017 là khoảng 40%, trong khi Nghệ An là địa phương có vị trí tiếp giáp thì vẫn chững lại khoảng 30% và dường như chưa xác định được cụ thể phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của bản thân địa phương.
Bên cạnh đó, trong việc tạo ra một cơ chế chung cho quy hoạch và phát triển, đó là khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, cả ba tỉnh đều tự mình đưa ra những quy hoạch giao thông phụ trợ cho phát triển công nghiệp của họ, ví dụ như sân bay và cảng biển. Không có được tiếng nói chung về xây dựng cơ chế đồng bộ là lý giải cho thực tế này, xu hướng cạnh tranh trực tiếp với địa phương ngay kế bên vẫn đẩy các cụm khu công nghiệp không có được sự liên kết hỗ trợ nhau, ví dụ như ở đây là Nghi Sơn -Nam Cấm - Vũng Áng. Khu vực trọng điểm kinh tế miền Trung theo cách phân định của Chính phủ tỏ ra cải thiện hơn với điển hình liên kết vùng du lịch giữa Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, tuy nhiên những liên kết các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp vẫn cần được quan tâm và thực hiện hiệu quả trên bình diện toàn vùng. Các nhân tố truyền thống ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại địa phương có thể kể tên như nguồn lực về vồn, nguồn lực về lao động hay 3 trình độ khoa học và công nghệ.
Thực tế khu vực duyên hải Trung Bộ trong thời gian qua đã thu hút được những nguồn vốn tương đối lớn để xây dựng được nền tảng cơ bản để phục vụ quá trình chuyển dịch sang các ngành công nghiệp, ví dụ như tập trung quy hoạch các khu công nghiệp tại các vị trí phù hợp, xây dựng hệ thống giao thông nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển cũng như vận tải của doanh nghiệp, có các chính sách phù hợp để ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm trên địa bàn. Hay như đề cập đến khu vực dịch vụ, các địa phương cũng đã tận dụng nguồn lực về tài nguyên - thiên nhiên sẵn có để có quy hoạch cụ thể đồng bộ hỗ trợ dịch vụ du lịch bên cạnh cung cấp nền tảng về hậu cần tương đối hiệu quả cho các ngành dịch vụ liên quan phát triển. Tuy nhiên, vấn đề cần quan ngại đầu tiên là sự chênh lệch giữa các địa phương về thu hút các nguồn vốn bên cạnh tồn tại sự cạnh tranh để có được các nguồn lực đến từ các nguồn lực uy tín, thứ hai hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn chia theo các thành phần kinh tế là một vấn đề cần được đánh giá cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế ngành, từ đó có được chiến lược đúng đắn để có được các chỉ tiêu phát triển kinh tế ổn định, bền vững. Ngoài ra, đề cập đến nguồn lực về lao động, các địa phương trên toàn khu vực dường như vẫn chưa tạo được cơ chế phù hợp để đào tạo nguồn lực từ các ngành có năng suất thấp như nông nghiệp để tham gia vào các chuỗi sản xuất giá trị cao hay có được vị trí phù hợp với bộ phận trong ngành có thu nhập hấp dẫn như dịch vụ.
Bên cạnh đó, việc thu hút hay giữ chân nguồn lực lao động lao động chất lượng cao cũng là một vấn đề cần quan tâm nữa trong chính sách cụ thể của từng địa phương, dựa trên đặc điểm và điều kiện nội tại của quy mô tỉnh/thành phố. Nhắc đến trình độ và nền tảng khoa học - công nghệ, các quốc gia tại châu Á đạt được các thành tựu vượt bậc trong phát triển các ngành công nghiệp nặng như Hàn Quốc trong việc chế tạo máy móc, công nghiệp ô-tô hay Xinh-ga-po trong việc phát triển ngành dịch vụ hiện đại là tập trung vào nghiên cứu, có chính sách hỗ trợ phù hợp, tập trung chuyển giao, từ đó sở hữu các công nghệ mới nhất bên cạnh quy hoạch cho các địa phương hay khu vực phù hợp với điều kiện tự nhiên để tạo động lực cho kinh tế vùng hay địa bàn. Đề cập đến một nhân tố dần thể hiện vai trò quan trọng trong tái cơ cấu nền kinh tế trong thời gian gần đây đó là thể chế. Nhân tố này được đề cập trong nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như gần đây tại Việt Nam nhờ sự xuất hiện của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ năm 2007.
Các địa phương tại Việt Nam nói chung hay các tỉnh duyên hải Trung Bộ từ đây cũng đã có được chỉ báo nhằm cải thiện các bộ phận liên quan nhằm đạt được các đánh giá tích cực hơn, từ đó cải thiện rõ rệt về cung cách điều hành cũng như thực hiện hiệu quả về thủ tục, chính sách về các mặt để đạt được chuyển biến trong bộ máy, thu hút được các nguồn lực về cả vốn, lao động hay cách nhìn nhận 4 để chuyển hướng kinh tế linh động, tương thích với bối cảnh của quốc tế, quốc gia hay liên kết các địa phương trong vùng.