Luận án TS: Các nhân tố ảnh hưởng CĐCC kinh tế Duyên hải Trung Bộ

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chuyển dịch cơ cấu kinh tế các tỉnh. Luận án cung cấp mô hình, phân tích dữ liệu và các hàm ý chính sách thực tiễn.

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2020

32
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Các nghiên cứu về tác động của các nhân tố nguồn lực đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.2. Các nghiên cứu về tác động của thể chế đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.2.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.2.2. Các nghiên cứu trong nước

1.3. Các nghiên cứu về tác động của liên kết vùng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

1.3.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.3.2. Các nghiên cứu trong nước

1.4. Các nghiên cứu về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế

1.4.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.4.2. Các nghiên cứu trong nước

1.5. Kết luận rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.5.1. Kết luận rút ra

1.5.2. Hướng nghiên cứu trọng tâm của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế

2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.1.3. Các xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.2. Cơ sở lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.2.1. Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh

2.3. Khung phân tích của nghiên cứu

2.3.1. Quy trình nghiên cứu chung

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

3.1. Khái quát về các tỉnh trong khu vực duyên hải Trung Bộ

3.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tỉnh trong khu vực

3.1.2. Chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các tỉnh trong khu vực

3.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ

3.2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 1995-2005

3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu GDRP ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 2006-2017

3.2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế của các địa phương giai đoạn 2006-2017

3.2.4. Đánh giá chuyển dịch cơ cấu GDRP ngành kinh tế của các địa phương thông qua chỉ số chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

3.3. Đánh giá khái quát về thực trạng của liên kết vùng trong khu vực

3.3.1. Tình hình chung về liên kết vùng trong khu vực

3.3.2. Điển hình liên kết vùng Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam

3.4. Đánh giá khái quát về thể chế chính sách của các địa phương thông qua chỉ số PCI và các chỉ số thành phần

3.5. Đánh giá khái quát về các nhân tố nguồn lực của các địa phương trong khu vực

3.5.1. Thực trạng về vốn đầu tư trên địa bàn

3.5.2. Thực trạng về chất lượng lao động trên địa bàn

3.6. Thực trạng về quy mô nền kinh tế và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương

3.7. Đánh giá chung về thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương trong khu vực

4. CHƯƠNG 4: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI TRUNG BỘ

4.1. Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế các tỉnh duyên hải Trung Bộ

4.1.1. Mô hình lý thuyết

4.1.2. Mô tả số liệu

4.1.3. Phương pháp ước lượng

4.1.4. Kết quả thực nghiệm

4.2. Đánh giá chung

5. CHƯƠNG 5: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC CÁC NHÂN TỐ ĐỂ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU CÁC TỈNH KHU VỰC DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG

5.1. Bối cảnh về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

5.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước

5.1.2. Cơ hội và thách thức với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành các tỉnh trong khu vực

5.2. Định hướng hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các địa phương trên địa bàn

5.3. Một số giải pháp đề xuất

5.3.1. Hoàn thiện thể chế

5.3.2. Phát triển các quan hệ liên kết nội vùng và liên vùng

5.3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

5.3.4. Cải thiện chất lượng vốn đầu tư, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng khoa học và công nghệ

5.3.5. Xây dựng nền tảng đáp ứng với nhu cầu của thời đại kinh tế số

5.4. Khuyến nghị về chính sách

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan chuyển dịch cơ cấu kinh tế Duyên hải Trung Bộ

Khu vực Duyên hải Trung Bộ Việt Nam đang chứng kiến một quá trình tái cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, thể hiện qua sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành. Quá trình này là nội dung cốt lõi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tếphát triển bền vững. Theo Luận án Tiến sĩ của Phạm Việt Bình (2020), giai đoạn 2007-2017 là thời kỳ then chốt, ghi nhận những biến động quan trọng trong cơ cấu ngành kinh tế của 14 tỉnh thành trong khu vực. Sự chuyển dịch diễn ra theo xu hướng chung của cả nước: giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, tốc độ và chất lượng chuyển dịch không đồng đều giữa các địa phương. Một số tỉnh như Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa đã đạt được thành tựu đáng kể trong việc phát triển kinh tế du lịch dịch vụ và các khu kinh tế ven biển. Trong khi đó, nhiều địa phương khác vẫn đối mặt với thách thức trong việc tìm kiếm động lực tăng trưởng mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc khai thác hiệu quả các nguồn lực phát triển nội tại và thu hút các nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là đầu tư FDI, là yếu tố quyết định thành công. Quá trình này không chỉ là sự thay đổi về con số mà còn là sự dịch chuyển về chất lượng, đòi hỏi sự nâng cấp về cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn lao động chất lượng cao.

1.1. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế khu vực

Xu hướng chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Duyên hải Trung Bộ là giảm dần tỷ trọng của khu vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp và tăng dần tỷ trọng của khu vực Công nghiệp-Xây dựng và Dịch vụ. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, đến năm 2017, tỷ trọng GDP ngành nông nghiệp trung bình toàn vùng vẫn còn ở mức 18,26%, một con số tương đối cao so với kỳ vọng. Các địa phương như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam đã có bước đột phá trong phát triển công nghiệp, với tỷ trọng GRDP ngành này đạt khoảng 40%. Ngược lại, các tỉnh như Đà Nẵng, Khánh Hòa lại ghi dấu ấn mạnh mẽ với kinh tế du lịch dịch vụ, tận dụng lợi thế về tài nguyên biển và thiên nhiên. Sự khác biệt này cho thấy định hướng phát triển của mỗi địa phương phụ thuộc lớn vào lợi thế so sánh và chính sách thu hút đầu tư.

1.2. Vai trò của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, bao gồm Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Bình Định, đóng vai trò là đầu tàu, tạo ra sức lan tỏa cho toàn khu vực. Sự hình thành các khu kinh tế lớn như Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội đã tạo ra động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư FDI. Điển hình là mô hình liên kết vùng Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam trong phát triển du lịch "Con đường Di sản Miền Trung". Tuy nhiên, sự liên kết trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp vẫn còn hạn chế. Việc phát huy tối đa vai trò của vùng kinh tế trọng điểm đòi hỏi một cơ chế điều phối hiệu quả hơn, đặc biệt là trong quy hoạch cơ sở hạ tầng và phân bổ nguồn lực phát triển.

II. Top 3 rào cản tái cơ cấu kinh tế Duyên hải Trung Bộ

Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Duyên hải Trung Bộ vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn. Những rào cản này làm chậm tốc độ phát triển và ảnh hưởng đến tính bền vững của nền kinh tế. Luận án của Phạm Việt Bình (2020) đã chỉ ra ba nhóm vấn đề chính. Thứ nhất, sự yếu kém trong liên kết vùng và thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng dẫn đến tình trạng cạnh tranh nội vùng thay vì hợp tác cùng phát triển. Các khu công nghiệp như Nghi Sơn, Nam Cấm, Vũng Áng hoạt động độc lập, làm lãng phí nguồn lực. Thứ hai, khu vực này chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ, gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống, đặc biệt là ngành nông nghiệp và du lịch ven biển. Thứ ba, chất lượng nguồn lực phát triển còn nhiều hạn chế. Mặc dù dồi dào về số lượng, nhưng nguồn lao động chất lượng cao vẫn thiếu hụt, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư FDI giữa các tỉnh đôi khi dẫn đến việc hạ thấp các tiêu chuẩn về môi trường và lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển bền vững.

2.1. Hạn chế về liên kết vùng và cơ sở hạ tầng

Liên kết vùng được xem là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Các địa phương thường có xu hướng quy hoạch và phát triển độc lập theo địa giới hành chính, dẫn đến sự trùng lặp về định hướng ngành nghề và cạnh tranh trực tiếp. Ví dụ, các tỉnh lân cận cùng xây dựng cảng biển, sân bay quy mô nhỏ thay vì hợp tác đầu tư vào các cụm cảng, sân bay trung tâm. Cơ sở hạ tầng giao thông kết nối, đặc biệt là hành lang kinh tế Đông - Tây, chưa được đầu tư tương xứng, làm giảm khả năng lưu thông hàng hóa và kết nối với các thị trường lớn trong khu vực và quốc tế.

2.2. Tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu và đô thị hóa

Là dải đất ven biển hẹp, Duyên hải Trung Bộ cực kỳ nhạy cảm với các tác động của biến đổi khí hậu. Tình trạng xâm nhập mặn, bão lũ, hạn hán ngày càng diễn ra với tần suất và cường độ cao hơn, đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực và các ngành kinh tế biển. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng thiếu quy hoạch đồng bộ cũng gây áp lực lên hệ thống hạ tầng và môi trường. Việc giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là một bài toán khó, đòi hỏi các giải pháp mang tính chiến lược và dài hạn.

III. Cách các nhân tố nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Các nguồn lực phát triển đóng vai trò nền tảng, quyết định tốc độ và chất lượng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nghiên cứu thực nghiệm trong luận án đã lượng hóa tác động của ba nhóm nhân tố chính: vốn, lao động và khoa học công nghệ. Về vốn, cả nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn tư nhân và đầu tư FDI đều có ảnh hưởng tích cực. Đặc biệt, đầu tư FDI không chỉ mang lại nguồn vốn lớn mà còn kèm theo công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý và mở ra thị trường xuất khẩu. Về lao động, số lượng không còn là yếu tố quyết định, thay vào đó là chất lượng. Nguồn lao động chất lượng cao, được đào tạo bài bản, có kỹ năng, là chìa khóa để tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao. Cuối cùng, khoa học - công nghệ là động lực cốt lõi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao và tự động hóa trong sản xuất, giúp nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

3.1. Phân tích tác động của vốn đầu tư và đầu tư FDI

Nguồn vốn đầu tư là điều kiện tiên quyết để xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành các cơ sở sản xuất mới. Kết quả phân tích định lượng cho thấy, đầu tư FDI có tác động lan tỏa mạnh mẽ nhất, giúp thúc đẩy sự hình thành các khu kinh tế ven biển và các ngành công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công còn là một vấn đề cần cải thiện. Cần có cơ chế phân bổ và giám sát vốn hiệu quả hơn, tập trung vào các công trình hạ tầng trọng điểm có tính kết nối liên vùng, thay vì đầu tư dàn trải.

3.2. Vai trò then chốt của nguồn lao động chất lượng cao

Sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ là một xu thế tất yếu. Tuy nhiên, để quá trình này thực sự tạo ra giá trị gia tăng cao, yếu tố quyết định là chất lượng lao động. Các địa phương cần có chiến lược đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, đồng thời ban hành các chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nguồn lao động chất lượng cao. Việc nâng cao chất lượng nhân lực không chỉ giúp tăng năng suất lao động mà còn là nền tảng để tiếp thu và làm chủ công nghệ mới.

IV. Bí quyết cải thiện thể chế và chính sách thu hút đầu tư

Thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh là nhân tố "mềm" nhưng có tác động vô cùng quan trọng đến quá trình tái cơ cấu kinh tế. Một thể chế minh bạch, hiệu quả và kiến tạo phát triển sẽ tạo ra động lực cho doanh nghiệp đầu tư và đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu của Phạm Việt Bình (2020) đã sử dụng chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) làm biến đại diện cho chất lượng thể chế và phát hiện ra mối tương quan thuận chiều mạnh mẽ với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Các địa phương có điểm số PCI cao, đặc biệt là ở các chỉ số thành phần như chi phí không chính thức, tính minh bạch và hỗ trợ doanh nghiệp, thường thu hút được nhiều đầu tư FDI và có tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp, dịch vụ nhanh hơn. Do đó, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, và tăng cường đối thoại với doanh nghiệp là những giải pháp cốt lõi. Bên cạnh đó, việc xây dựng các chính sách thu hút đầu tư đặc thù cho từng ngành, từng khu kinh tế ven biển cũng cần được chú trọng để phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương.

4.1. Cải thiện Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI

Chỉ số PCI là thước đo quan trọng phản ánh cảm nhận của cộng đồng doanh nghiệp về môi trường kinh doanh tại một địa phương. Để cải thiện PCI, các tỉnh cần tập trung vào việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, công khai minh bạch các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và ngân sách. Giảm thiểu "chi phí không chính thức" và nâng cao tính năng động, tiên phong của bộ máy chính quyền là những yếu tố được doanh nghiệp đánh giá cao, trực tiếp ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh.

4.2. Xây dựng chính sách ưu đãi cho các khu kinh tế

Các khu kinh tế ven biển là những cực tăng trưởng quan trọng. Chính sách thu hút đầu tư vào các khu vực này cần có sự khác biệt và cạnh tranh. Các ưu đãi không chỉ nên dừng lại ở thuế và tiền thuê đất mà cần mở rộng sang hỗ trợ đào tạo lao động, xây dựng hạ tầng dùng chung, kết nối chuỗi cung ứng và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ tài chính. Chính sách cần được thiết kế linh hoạt, phù hợp với đặc thù của từng ngành mục tiêu, ví dụ như công nghiệp công nghệ cao, logistics, hay kinh tế du lịch dịch vụ.

V. Hướng đi tương lai Chuyển dịch kinh tế bền vững hơn

Để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Duyên hải Trung Bộ đi vào chiều sâu và thực sự bền vững, các giải pháp cần mang tính tổng thể và dài hạn. Định hướng tương lai không chỉ là tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà phải gắn liền với phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong tư duy quy hoạch và điều hành. Thứ nhất, cần tăng cường liên kết vùng một cách thực chất thông qua một cơ chế điều phối chung, có đủ thẩm quyền để điều hòa lợi ích và phân công nhiệm vụ giữa các địa phương. Thứ hai, quá trình đô thị hóa phải đi đôi với việc xây dựng hạ tầng xã hội, giải quyết các vấn đề về nhà ở, y tế, giáo dục cho người lao động nhập cư. Thứ ba, các mô hình kinh tế mới như kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, nông nghiệp công nghệ cao cần được ưu tiên phát triển để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Cuối cùng, việc xây dựng các chính sách cần dựa trên bằng chứng khoa học và có sự tham gia của các bên liên quan, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

5.1. Tích hợp đô thị hóa và đảm bảo an sinh xã hội

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo sự gia tăng dân số tại các đô thị và khu công nghiệp. Nếu không có kế hoạch đồng bộ, điều này sẽ gây áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng và dịch vụ công. Do đó, quy hoạch đô thị hóa cần gắn liền với các chương trình phát triển nhà ở xã hội, mở rộng mạng lưới trường học, bệnh viện. Đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động, đặc biệt là lao động di cư, là yếu tố quan trọng để duy trì sự ổn định và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

5.2. Khuyến nghị chính sách cho giai đoạn phát triển mới

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị chính sách được đề xuất. Cần thành lập Hội đồng điều phối vùng với thực quyền. Ưu tiên nguồn vốn đầu tư công cho các dự án cơ sở hạ tầng có tính kết nối liên vùng như cao tốc Bắc-Nam, hành lang kinh tế Đông - Tây. Ban hành khung chính sách thu hút đầu tư chung cho toàn vùng, tránh cạnh tranh không lành mạnh. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp đầu tư FDI, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một vấn đề kinh điển và đã có rất nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan trên thế giới cũng như trong nước. Thực tế vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn là chủ đề đáng lưu tâm. Công cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước nói chung hay trên địa bàn các địa phương nói riêng vẫn đòi hỏi nội dung cốt lõi về việc các địa phương thực hiện quá trình chuyển dịch các ngành với cơ cấu có phù hợp hay không, gắn với khai thác lợi thế, thực hiện hiệu quả các nguồn vốn, bộ máy công quyền hoạt động minh bạch hay nâng cao trình độ khoa học công nghệ.

Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho tất cả các địa phương với ba miền được phân định Bắc - Trung - Nam cùng các đặc trưng khác nhau hiện tại không còn phù hợp. Mặc dù đã có những bước chuyển biến trong quy hoạch, thu hút kêu gọi nhà đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu chuyển dịch ngành kinh tế phi nông nghiệp như Thanh Hóa, Hà Tĩnh hay Quảng Nam đã chuyển dịch tương đối hiệu quả sang ngành công nghiệp hay Quảng Bình, Đà Nẵng hoặc Khánh Hòa nhằm đẩy nhanh sự tăng trưởng tỷ trọng của ngành dịch vụ. Tuy nhiên, các địa phương còn lại với cùng chung các đặc điểm về địa lý, văn hóa - xã hội lại chưa làm được điều tương tự. Khu vực duyên hải miền Trung bao gồm các tỉnh, thành phố đồng bằng nằm ở miền Trung Việt Nam, đặc điểm chung của các tỉnh, thành phố này đó là đều tiếp giáp với biển.

Bên cạnh đó, địa hình đồng bằng bị cắt xẻ bởi các nhánh núi ăn sát ra biển, ví dụ như, dãy núi Hoành Sơn - đèo Ngang, dãy nũi Bạch Mã - đèo Hải Vân, dãy nũi Nam Bình Định - đèo Cả. Do đó, địa hình của vùng đồng bằng này mang tính chất chân núi - ven biển. Kinh tế biển từ xưa đến nay luôn được người dân ở dọc dài miền Trung tận dụng để nuôi sống bản thân hay sau này là phát triển kinh tế địa phương. Ngoài ra, hạ tầng giao thông với sân bay, cảng biển trải dài đều đặn trên các tỉnh thành cũng là những hỗ trợ đắc lực để khu vực nằm giữa đất nước này có thể mang đến một động lực phát triển mới, bắt nhịp với xu thế phát triển của hai đầu đất nước.

Khu kinh tế mở Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất, khu kinh tế Chân Mây hay khu kinh tế Nhơn Hội đang được kỳ vọng trở thành những khu kinh tế trọng điểm, mang đến giá trị sản xuất cao. Được thời tiết ủng hộ và sự hiện hữu của các đảo lớn nhỏ do sự hình thành trong quá khứ mang đến cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tiềm lực rõ ràng về phát triển du lịch, nổi bật trong số đó là Phong Nha - Kẻ Bàng, Đà Nẵng - Hội An, Vân Phong - Quy Nhơn - Nha Trang - Cam Ranh - Ninh Chữ - Mũi Né. Hơn nữa, với hệ thống cảng nước sâu như Đà 2 Nẵng, Quy Nhơn hay cảng biển đang được quy hoạch xây dựng tại vịnh Vân Phong là đầu mối giao thông, trạm trung chuyển giúp kích thích sự phát triển công nghiệp trong toàn vùng. Ngoài những điểm chung, sự khác biệt về khí hậu, thời tiết do cấu tạo địa chất, địa hình, vị trí với đường xích đạo, chí tuyến đã phân chia khu vực đồng bằng trải dài từ Bắc vào Nam của Việt Nam này thành hai vùng có phần riêng biệt, đó là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ.

Không có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành dịch vụ như vùng Duyên hải phía Nam trong khu vực, khu vực Bắc Trung Bộ thời gian về trước tập trung chủ yếu về ngành nông nghiệp, tốc độ phát triển không đồng đều cùng với sự trì trệ thấy rõ trong kết quả kinh tế xã hội đang đặt ra một dấu hỏi lớn về năng lực tự thân phát triển của một vài tỉnh trong khu vực này. Khu vực cửa ngõ vào miền Trung này đang cần một luồng gió mới trong quy hoạch hay cơ chế để có được sự trỗi dậy đúng như kỳ vọng về tiềm năng tại vùng đất chứng kiến nhiều dấu ấn lịch sử của đất nước. Tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại các địa phương bên cạnh những thành tựu của các địa phương cụ thể chưa đánh dấu được sức ảnh hưởng của việc liên kết các tỉnh/thành phố có địa giới hành chính cạnh nhau, mặt khác nhóm các địa phương trước năm 1990 cùng thuộc một địa phương có chung đặc điểm lịch sử và văn hóa - xã hội không có sự kết hợp hiệu quả nào nhằm thúc đẩy, hỗ trợ nhau trong việc định hướng phát triển các ngành kinh tế. Có thể kể ra như các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh trong quá trình phát triển gần đây bộc lộ rõ sự thiếu liên kết, khi Thanh Hóa và Hà Tĩnh dần bứt phá chứng tỏ quá trình tập trung phát triển ngành công nghiệp rõ ràng của hai địa phương khi tỷ trọng GRDP ngành này đến năm 2017 là khoảng 40%, trong khi Nghệ An là địa phương có vị trí tiếp giáp thì vẫn chững lại khoảng 30% và dường như chưa xác định được cụ thể phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của bản thân địa phương.

Bên cạnh đó, trong việc tạo ra một cơ chế chung cho quy hoạch và phát triển, đó là khu vực các tỉnh Bắc Trung Bộ, cả ba tỉnh đều tự mình đưa ra những quy hoạch giao thông phụ trợ cho phát triển công nghiệp của họ, ví dụ như sân bay và cảng biển. Không có được tiếng nói chung về xây dựng cơ chế đồng bộ là lý giải cho thực tế này, xu hướng cạnh tranh trực tiếp với địa phương ngay kế bên vẫn đẩy các cụm khu công nghiệp không có được sự liên kết hỗ trợ nhau, ví dụ như ở đây là Nghi Sơn -Nam Cấm - Vũng Áng. Khu vực trọng điểm kinh tế miền Trung theo cách phân định của Chính phủ tỏ ra cải thiện hơn với điển hình liên kết vùng du lịch giữa Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, tuy nhiên những liên kết các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp vẫn cần được quan tâm và thực hiện hiệu quả trên bình diện toàn vùng. Các nhân tố truyền thống ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại địa phương có thể kể tên như nguồn lực về vồn, nguồn lực về lao động hay 3 trình độ khoa học và công nghệ.

Thực tế khu vực duyên hải Trung Bộ trong thời gian qua đã thu hút được những nguồn vốn tương đối lớn để xây dựng được nền tảng cơ bản để phục vụ quá trình chuyển dịch sang các ngành công nghiệp, ví dụ như tập trung quy hoạch các khu công nghiệp tại các vị trí phù hợp, xây dựng hệ thống giao thông nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển cũng như vận tải của doanh nghiệp, có các chính sách phù hợp để ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm trên địa bàn. Hay như đề cập đến khu vực dịch vụ, các địa phương cũng đã tận dụng nguồn lực về tài nguyên - thiên nhiên sẵn có để có quy hoạch cụ thể đồng bộ hỗ trợ dịch vụ du lịch bên cạnh cung cấp nền tảng về hậu cần tương đối hiệu quả cho các ngành dịch vụ liên quan phát triển. Tuy nhiên, vấn đề cần quan ngại đầu tiên là sự chênh lệch giữa các địa phương về thu hút các nguồn vốn bên cạnh tồn tại sự cạnh tranh để có được các nguồn lực đến từ các nguồn lực uy tín, thứ hai hiệu quả của việc sử dụng các nguồn vốn chia theo các thành phần kinh tế là một vấn đề cần được đánh giá cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế ngành, từ đó có được chiến lược đúng đắn để có được các chỉ tiêu phát triển kinh tế ổn định, bền vững. Ngoài ra, đề cập đến nguồn lực về lao động, các địa phương trên toàn khu vực dường như vẫn chưa tạo được cơ chế phù hợp để đào tạo nguồn lực từ các ngành có năng suất thấp như nông nghiệp để tham gia vào các chuỗi sản xuất giá trị cao hay có được vị trí phù hợp với bộ phận trong ngành có thu nhập hấp dẫn như dịch vụ.

Bên cạnh đó, việc thu hút hay giữ chân nguồn lực lao động lao động chất lượng cao cũng là một vấn đề cần quan tâm nữa trong chính sách cụ thể của từng địa phương, dựa trên đặc điểm và điều kiện nội tại của quy mô tỉnh/thành phố. Nhắc đến trình độ và nền tảng khoa học - công nghệ, các quốc gia tại châu Á đạt được các thành tựu vượt bậc trong phát triển các ngành công nghiệp nặng như Hàn Quốc trong việc chế tạo máy móc, công nghiệp ô-tô hay Xinh-ga-po trong việc phát triển ngành dịch vụ hiện đại là tập trung vào nghiên cứu, có chính sách hỗ trợ phù hợp, tập trung chuyển giao, từ đó sở hữu các công nghệ mới nhất bên cạnh quy hoạch cho các địa phương hay khu vực phù hợp với điều kiện tự nhiên để tạo động lực cho kinh tế vùng hay địa bàn. Đề cập đến một nhân tố dần thể hiện vai trò quan trọng trong tái cơ cấu nền kinh tế trong thời gian gần đây đó là thể chế. Nhân tố này được đề cập trong nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như gần đây tại Việt Nam nhờ sự xuất hiện của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ năm 2007.

Các địa phương tại Việt Nam nói chung hay các tỉnh duyên hải Trung Bộ từ đây cũng đã có được chỉ báo nhằm cải thiện các bộ phận liên quan nhằm đạt được các đánh giá tích cực hơn, từ đó cải thiện rõ rệt về cung cách điều hành cũng như thực hiện hiệu quả về thủ tục, chính sách về các mặt để đạt được chuyển biến trong bộ máy, thu hút được các nguồn lực về cả vốn, lao động hay cách nhìn nhận 4 để chuyển hướng kinh tế linh động, tương thích với bối cảnh của quốc tế, quốc gia hay liên kết các địa phương trong vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ