CHƯƠNG 1: MO DAU 1.1 Ly do lựa chọn đề tài Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu theo đuôi trong dài hạn của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chính phủ của các quốc gia luôn phải cố gang sử dụng tối đa nội lực trong nước cũng như giảm thiểu sự phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài do những rủi ro tiềm ân về kinh tế - xã hội của nợ công. Tuy nhiên, cho đến nay, vay nợ dé tài trợ cho đầu tư công van là hình thức phổ biến bởi vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Trong những năm gần đây, các chỉ số về nợ phản ánh xu hướng vay nợ ngày càng gia tăng của hầu hết các quốc gia.
Đặc biệt trong thời kỳ “thế giới phăng” khi mà việc tiếp cận thị trường vốn quốc tế ngày càng trở nên dễ dàng cũng như các thỏa thuận, hiệp định khuyến khích đầu tư và vay nợ nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến. Hiện nay có ba quan điểm chính về tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế, đó là: (1) Nợ công thúc day tăng trưởng kinh tế; (2) Nợ công kìm hãm tăng trưởng kinh tế; (3) Nợ công vừa thúc day lại vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Chính vì những phức tạp khi xem xét các vấn đề tăng trưởng kinh tế và nợ công mà chủ đề này luôn nhận được rất nhiều quan tâm từ giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, yêu cầu những phân tích sâu rộng từ nhiều khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế là rất cần thiết đối với mọi quốc gia, ở mọi trình độ phát triển kinh tế.
12 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu trả lời câu hỏi: Giữa tỷ lệ nợ công và tốc độ tăng trưởng kinh tế liệu có tồn tại mối quan hệ tuyến tính/phi tuyến hay không? Nợ công cao tác động đến tăng trưởng kinh tế như thế nào? Đâu là ngưỡng tôi ưu của nợ công mà tại đó nên kinh tê tăng trưởng với tôc độ nhanh nhât? 13 Phạm vi nghiên cứu Pham vi nghiên cứu là các quốc gia khu vực châu A — Thái Bình Dương được quan sát theo từng năm trong giai đoạn 1985-2019. Mẫu nghiên cứu được chia làm ba nhóm quốc gia: (i) Nhóm quốc gia thu nhập cao (Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand và Singapore); (1) Nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao (Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia) và (iii) Nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp (Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Việt Nam).4 Phuong pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng mô hình tác động cố định, hồi quy với dữ liệu mảng, biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng GDP, biến giải thích là tỷ lệ nợ công trên GDP và các biến kiểm soát khác, tương tự như Rother và Checherita-Westphal (2012) đã thực hiện với 12 quốc gia khu vực châu Âu. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ bộ dữ liệu Historical Public Debt, International Financial Statistics, World Economic Outlook và Asia and Pacific Regional Economic Outlook cua Quy Tién té Quốc tế; từ bộ dữ liệu World Development Indicators của Ngân hàng Thé giới. CHƯƠNG 2: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về nợ công e Khai niệm nợ công Để có thé quan sát thực trạng nợ công của các quốc gia khu vực châu A — Thái Bình Dương, nghiên cứu sẽ trình bày khung lý thuyết về nợ công bằng việc tổng hợp những định nghĩa và những khái niệm xung quanh nợ công của Việt Nam, của Ngân hàng Thế giới (WB) và của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Theo Luật Quản lý Nợ công 2017, nợ công bao gồm nợ của chính phủ, nợ của chính quyền địa phương và nợ được bảo lãnh bởi chính phủ: (i) Nợ của chính phủ là các khoản nợ nhân danh chính phủ, nhân danh nhà nước phát sinh từ những khoản vay trong nước hay nước ngoài hoặc những khoản vay được Bộ Tài chính phát hành, ký kết theo quy định của pháp luật. Các khoản nợ từ việc Ngân hàng Nhà nước tài trợ dé thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời ky không tính vào nợ của chính phủ. (ii) Nợ của chính quyền địa phương là những khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phát hành, ký kết hoặc ủy quyền phát hành. (iii) Nợ được bảo lãnh bởi chính phủ là những khoản nợ mà doanh nghiệp, tổ chức tài chính.
vay trong nước hay nước ngoai được chính phủ bảo lãnh. Theo định nghĩa của WB, nợ công bao gồm tat cả các khoản nợ của chính phủ và các khoản nợ được bảo lãnh bởi chính phủ. Dựa vào định nghĩa đó, nếu hiểu nợ của chính phủ bao gồm nợ của nợ của chính quyền địa phương và chính phủ trung ương thì thấy rằng định nghĩa về nợ công của Việt Nam tương đồng với định nghĩa của WB. Con theo IMF (2011), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công.
Đi kèm với đó là định nghĩa cụ thé về khu vực công, bao gồm khu vực chính phủ và khu vực các tô chức công (Hình 1). Khu vực công Khu vực chính phủ Khu vực tổ chức công h. Rope ¬A at pe Tổ chức công Chính phủ Trung ương Tô chức công tài chính phi tài chính Chính quyền liên bang Ngân hang Trung ương (NHTW) Chính quyền địa phương Các tô chức nhà nước nhận tiền gửi (trừ NHTW) Các tổ chức tài chính công khác Hình 1: Các thành phần của khu vực công theo định nghĩa của IMF (2011). Nhánh bên trái là khu vực chính phủ gồm nhiều cấp từ cấp trung ương cho đến cấp địa phương.
Nhánh bên phải là khu vực tổ chức công bao gồm những tô chức công tài chính và phi tài chính. Những tổ chức công phi tài chính hoặc là các tô chức như trường đại học công lập, bệnh viện công. hoặc là những tập đoàn quốc doanh không hoạt động trong lĩnh vực tài chính như điện lực, viễn thông. Những tổ chức công tài chính là t6 chức mà được hỗ trợ bởi chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, lương hưu hay tư vấn tài chính, thực hiện các dịch vụ nhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công.
e Phân loại nợ công Khi nói vê nghĩa vụ nợ nói chung, các khoản nợ sẽ được chia thành hai loại, đó là nợ trong nước và nợ nước ngoài. Sự phân loại này không chỉ mang ý nghĩa địa ly mà còn bao hàm cả về đơn vi tiên tệ sử dụng của khoản vay. Do vậy sẽ có những khoản nợ công trong nước và những khoản nợ công nước ngoài. Dé huy động những khoản vay nợ trong nước, có thé sử dụng các công cụ như trái phiếu, tín phiếu, công trải.
và các công cụ làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ khác. Công cụ được sử dụng phổ biến nhất là trái phiếu. Phân loại theo cấp quản lý trong bộ máy nhà nước, trái phiếu được chia thành các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh. Trái phiếu cũng là nguôn vay nợ chính của các cơ quan quản lý này.
Luật Quản lý Nợ công của Việt Nam quy định các khoản vay nợ nước ngoài được phân thành các khoản vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), khoản vay thương mại và khoản vay ưu đãi. Khoản vay ODA là các khoản vay nhân danh chính phủ hay Nhà nước, từ những nhà tài trợ có thể là chính phủ các quốc gia, tổ chức đa quốc gia hay tổ chức liên chính phủ. Các khoản vay này có tỷ lệ yếu tố không hoàn lại chiếm tối thiểu 25% đối với những khoản vay không ràng buộc và 35% đối với khoản vay có ràng buộc. Khoản vay ưu đãi là những khoản vay được ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng tỷ lệ yếu tố không hoàn lại chưa đạt tiêu chuẩn của khoản vay ODA.
Khoản vay thương mại là những khoản vay thông qua thị trường bằng cách phát hành trái phiếu quốc tế. e Ban chat kinh té của nợ công Phần chênh lệch khi chính phủ chỉ tiêu nhiều hơn nguồn ngân sách thu được chính là thâm hụt ngân sách. Dé hạn chế phần thâm hut này, chính phủ hoặc phải thu ngân sách nhiều hơn, hoặc phải chỉ tiêu ít đi. Trong ngắn hạn, việc cắt giảm chỉ tiêu là không đơn giản vì các khoản chỉ tiêu đều đã nằm trong kế hoạch cụ thê.
Do vậy, chính phủ sẽ phải tìm cách tăng nguồn thu ngân sách. Chính phủ có hai kịch ban dé thực hiện hóa việc tăng nguồn thu ngân sách này. Kịch bản thứ nhất đó là tăng thuế - nguồn thu chính và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách. Nhưng thuế suất cao sẽ gây tác động tiêu cực đến thu nhập quốc dân, làm giảm thu nhập khả dụng khiến tiêu dùng bị hạn chế và mất động lực làm việc kéo theo sản lượng sẽ bị suy giảm.
Kịch bản thứ hai là chính phủ sẽ tìm kiếm những nguồn thu mới từ các khoản vay nợ bằng cách yêu cầu Ngân hàng Trung ương sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để vay trong nước cũng như vay nước ngoài. Những khoản vay đó trực tiếp khiến nợ công gia tăng hay nói cách khác nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh té e Lý thuyết tăng trưởng nội sinh Trước Barro (1990), một số nghiên cứu về chủ đề chỉ tiêu chính phủ đã được thực hiện. Nhưng phải đến khi bài nghiên cứu “Government Spending in a Simple Model of Endogenous Growth” được Barro công bố vào năm 1990 thì tác động của chi tiêu chính phủ và vai trò của hệ thống thuế đối với tăng trưởng kinh tế mới được xét đến một cách kỹ lưỡng. Hệ thống hóa quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách mà chính phủ lựa chọn bằng việc đưa thêm khu vực chính phủ vào mô hình tăng trưởng tân cô điển là mục tiêu chính của bài nghiên cứu này.
Nội dung chính của nghiên cứu Barro (1990) được trình bày như sau: Khu vực sản xuất: trong nghiên cứu nay, Barro giả định rằng chi tiêu của chính phủ cho các loại hàng hoá và dịch vụ công cộng sẽ có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất của khu vực tư nhân. Hàm tổng sản lượng của nền kinh tế dạng Cobb-Douglas được biéu diễn như sau: Y = AlI1~#K*#@1~# (1.1) trong đó 0< ø< l; Y, L, K và G lần lượt là tổng sản lượng của nên tinh tế, lao động, tư bản và tổng chỉ tiêu của chính phủ. Dé đơn giản, giả định rằng nền kinh tế có lực lượng lao động luôn cố định.