Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE DAU TƯ VÀ HIỆU QUA ĐẦU TƯ CUA DOANH NGHIỆP 1. ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm đầu tư Bàn về đầu tư chúng ta hiện đang có rất nhiều khái niệm khác nhau với nhiều quan điểm, góc độ cũng như các tiếp cận khác nhau. Do đó cách phát biểu có thé cũng không hoàn toàn giống nhau. Xem xét đầu tư dưới góc độ là một môn khoa học dé nghiên cứu sự vận động của các quy luật kinh tế trong đầu tư, PGS.TS Từ Quang Phương và PGS.TS Phạm Văn Hùng trong giáo trình Kinh tế đầu tư cho rằng: “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhăm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định” Chúng ta thường hiểu đầu tư như một quá trình dùng vốn hoặc là những nguồn lực sẵn có khác dé đạt được một hoặc một nhóm các mục tiêu, cũng có thể hiểu đơn giản làm quá trình dùng tiền làm gia tăng thêm tiền.
Đầu tư là một tài sản hoặc vật phẩm có được với mục tiêu tạo ra thu nhập hoặc sự lên giá, đó là việc mua hàng hóa không được tiêu thụ luôn thời điểm đó nhưng sẽ được dùng trong tương lai dé tạo ra tài sản. Xét trên góc độ tài chính, đầu tư là một tài sản thuộc về tiền tệ được mua với kì vọng sẽ cung cấp thu nhập trong tương lai hoặc sau đó sẽ được bán với mức giá cao hơn đề cho lợi nhuận. Thuật ngữ về đầu tư hay được sử dụng dé đề cập về một triển vọng trong dài hạn. Điều này là trái ngược với đầu cơ, một hoạt động mang tính ngắn hạn valién quan tới mức độ rủi ro hơn đầu tư rất nhiều.
Đầu tư thường có nguyên nhân từ việc tiêu thụ sản phẩm. Trong một xã hội thuần túy nông nghiệp, người nông dân khi thu hoạch mùa màng đầu tiên phải chọn bao nhiêu hạt dé ăn năm nay và bao nhiêu dé dành gieo cho vụ mùa tiếp theo. Phan dé dành chính là một khoản đầu tư. Trong xã hội hiện đại, chúng ta phân bổ năng lực sản xuất dé sản xuấtnhững mặt hàng tiêu dùng thuần túy như quan áo, thức ăn và chúng ta còn có các hàng hóa trên thị trường tài chính đóng vai trò như một chất bán dẫn.
Đây là cách đầu tư dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Không có đầu tư, sự phát triển của con người sẽ bị đình trệ. Ngày nay, đa số các nhà kinh tế cho rằng: “Đầu tư là phương thức tạo giá trị mới, dé cho vốn thực hiện được chức năng cung cấp giá tri thang dư cho người sở hữu nó”. Cho dù các cách tiếp cận, phát biểu và mục tiêu nghiên cứu là không giống nhau, như chúng ta có thể thấy trong tat cả, nội hàm của việc đầu tư đều thể hiện dù gián tiếp hay trực tiếp hành động bỏ tiền, vốn hoặc các nguồn lực khác ở hiện tại nhằm tiến hành một hoạt động và thu về lợi nhuận trong tương lai.
Nguồn lực ở đây khá phong phú, có thé bao gồm tiền, sức lao động, thời gian, trí tuệ, tài nguyên thiên nhiên, tài sản vô hình, hữu hình,. Hoạt động đầu tư mang các đặc điểm chính sau: - Đầu tiên, dé đầu tư cần phải có vốn. Vốn có thé dưới nhiều dạng như tiền hoặc các tài sản khác chang hạn như quyền sở hữu trí tuệ, máy móc, thiết bị, các loại hình dịch vụ, kĩ thuật hoặc các quyền sử dụng bat động san, dat dai, bién cting như những tài nguyên khác, các công trình xây dựng, nhà xưởng, bí quyết kỹ thuật. Vốn có thể được chia thành vốn nhà nước, vốn chủ sở hữu, vốn tư nhân và các khoản vay nợ bên ngoài.
- Đầu tư thường mang đặc điểm khác là thời gian dành cho mỗi khoản đầu tư thường tương đối dài, có những khoản đầu tư lên tới 50 năm, nhưng cũng không nhiều khoản đến quá 70 năm.Thường thời hạn này sẽ được ghi tại giấy phép đầu tư hoặc trong quyết định đầu tư. - Lợi ích từ việc đầu tư thể hiện ở hai mặt là lợi ích tài chính (biểu hiện quaLN thu về) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua chi số kinh tế xã hội). Chúng ta có thể gọi lợi ích kinh tế xã hội theo cách ngắn hơn là lợi ích kinh tế. Lợi nhuậncủa các nhà đầu tư bị tác động trực tiếp bởi lợi ích tài chính, hay còn được gọi là lợi ích kinh tế, mang lại những ảnh hưởng nhất địnhchung đến lợi ích cho toàn xã hội.
Vai trò đầu tư Từ việc xem xét thực chất của hoạt động đầu tư, thông qua các lí thuyêt kinh tế, xét với lí thuyết về inh tế thị trường và thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung đều xem đầu tư là một nhân tố trọng yếu góp phan phát triển nền kinh tế và chất kích thích cho tăng trưởng. Xét trên giác độ với nền kinh té Với nền kinh tế thị trường hiện nay, đầu tư mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, hoạt động này không chỉ đóng một vai tròcăn bản giúp cho việctái tạo, nâng cấp kinh tế, xã hội mà bên cạnh đó còn kích thích sự phát triển của nền kinh tế. Đầu tư giúp các nước đang phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói, nợ công và thúc đây hơn nữa kinh tế của các nước phát trién. Đầu tư tác động lên cả tổng cung và tổng cau - Về mặt cầu: Đầu tư là một thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu của tông cầu trong nền kinh tế.
Theo số liệu cung cấp bởi ngân hàng thé giới, lượng cầu từ đầu tư trung bình chiếm từ 24% -28% trong tổng cầu. Tác động của đầu tư đối với tổng cau là ngắn hạn. Thường là các tổ chức, các công ty sẽ mua các tài sản dé đầu tư, hoặc do sự gia tăng của lượng hàng hóa cung ứng, có cung, có cầu khiến cho nhu cầu mua hàng của người dân tăng lên dẫn đến việc tổng cầu tăng. Tuy nhiên ảnh hưởng của việc này đến tổng cầu chỉ mang tính chất ngắn hạn.
-Về mặt cung: Khi hoạt động đầu tư có kết quả, các nguồn lực mới bắt đầu phát huy tác dụng, tổng cung, đặc biệt là nguồn cung dài hạn tăng, dẫn đến tăng sản lượng sản xuất và do đó làm hạ giá thành sản phẩm. Tăng sản lượng, giá thấp hơn khiến cho tiêu dùng tăng. Việc tiêu dùng tăng trưởng sẽ tiếp tục thúc đây sản xuất. Tăng trưởng của sản xuất là nguồn lực chính để gia tăng tích lũy và phát triển kinh tế xã hội cũng như tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người lao động và cải thiện điều kiện sống cho tat cả các thành viên của xã hội.
Như vật ảnh hưởng của dau tư lên tổng cung là tác động trực tiếp, rõ rệt. Thông qua tăng cung đầu tư sẽ ảnh hưởng đến nên kinh tế. 4 - Đầu tư tác động đến sự dịch chuyền cơ cấu kinh tế: Theo kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới thấy rằng để tăng trưởng đạt được tốc độ như kì vọng (9-10%) thì cần phải thúc đây đầu tư, tạo ra được sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp cũng như dịch vụ. Về nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp vì hạn chế về các khả năng sinh học cũng như diện tích đất đai nên việc đạt được mức tăng trưởng 5-6% không đơn giản.
Do đó, việc quyết định đầu tư của đất nước sẽ tác động chính đến quá trình chuyên đổi cơ cấu nền kinh tế và từ đó dẫn đến sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế. Về cơ cấu thành phần lãnh thé, các dự án đầu tư ồn định lại sự mat cân đối trong sự phát triển của khu vực, tạo động lực giúp các khu vực kém phát triển khỏi nghèo đói và tối đa hóa các lợi thế so sánh về kinh tế, chính trị, địa thế, tài nguyên,.Ngoài ra còn giúp cho những vùng đã có tiềm lực gia tăng tốc độ phát triển, làm đòn bay cho các vùng kinh tế chưa mạnh có thé cùng nhau phát trién. - Đầu tư dé cải thiện năng lực khoa học và công nghệ của đất nước: Công nghệ luôn là trọng điểm của sự nghiệp công nghiệp hóa, và đầu tư là điều kiện quan trọng đề phát triển kinh tế. Trên thế giới, công nghệ ngày một thay đổi không ngừng và trở nên hiện đại.
Các chuyên gia về kỹ thuật đánh giá, trình độ kỹ thuật của Việt Nam còn nhiều lạc hậu với khu vực và thế giới. Theo UNIDO, “ Nếu như quá trình phát triển về công nghệ trên thế giới được chia thành 7 giai đoạn thì Việt Nam là một trong 90 nước có công nghệ kém nhất. Do trình độ công nghệ tương đối lạc hậu, nếu Việt Nam không đề ra được những giải phapdé đầu tư hiệu quả cho công nghệ, phát triển công nghệ nhanh chóng và bền vữngthì nước ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh và phát triển kinh tế”. Dé làm chủ được công nghệ chúng ta cần tự nghiên cứu, sáng tao công nghệ hoặc nhập khâu công nghệ mới từ nước ngoài.
Cho dù đó là tự nghiên cứu hoặc nhập khâu từ các quốc gia khác, điều cần thiết đầu tiên là tiền, cần phải có nguồn vốn đầu tư. Mọi kế hoạch không dựa vào đầu tư vốn vào đổi mới công nghệ sẽ là một lựa chọn không kha thi. Tác động đầu tư với các cơ sở sản xuất, kinh doanh Đối với mỗi doanh nghiệp, đầu tư đóng một vai trò quyết định với việc thành lập, duy trì và phát triển các cơ sở. Trong việc xây dựng nén tang kỹ thuật cần phải củng cô cơ sở hạ tang sẵn có, mua sắm và lắp đặt các loại thiết bị, và thực hiện công việc xây dựng.
Việc tạo ra các chi phí khác liên quan đến việc thực hiện các hoạt động kinh doanh liên quan đến chu kỳ cơ sở mới. Đối với các cơ sở dịch vụ và sản xuất đã tồn tại trong một thời gian, nền tảng vật chất và kỹ thuật của họ đã bị xuống cấp, hao mòn. Dé có thể duy trì các hoạt động bình thường, cần tiến hành định kỳ sửa chữa lớn hoặc cải tạo dé đáp ứng với các điều kiện phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ và nhu cung cấp của xã hội. Việc mua mới hoặc thay thế có thiết bị đã lạc hậu đều được coi là hoạt động đầu tư 1.
Đối với các tổ chức phi lợi nhuận Muốn tiếp tục các hoạt động một cách bền vững, cần phải chú ý đồng thời cả trùng tu, sửa chữa kết hợp lẫn bảo trì thường xuyên, định kì.