CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE HOẠT DONG MOI GIỚI CHUNG KHOAN TAI CONG TY CHUNG KHOAN 1. Khai quát về công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì “Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Như vậy, CTCK là một tô chức tài chính được thành lập theo pháp luật, thực hiện một và/hoặc một số hoạt động trên TTCK.
Phân loại công ty chứng khoán 1. Theo mô hình tổ chức Công ty chứng khoán là định chế tài chính đặc biệt với những nghiệp vụ phức tạp không giống với các công ty sản xuất, thương mại. Vì vậy mô hình của CTCK cũng sẽ có những điểm khác biệt nhất định ở từng quốc gia, thé hiện được định hướng phát triển cũng như việc quản lý hệ thống tài chính của đất nước đó. Có 02 mô hình cơ bản: “ Mô hình công ty chứng khoán da năng: CTCK loại nay cung cấp tổ 7 hợp nhiều dịch vụ tài chính một lúc: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính.
Lợi thế của mô hình là kết nối được đa dạng lĩnh vực kinh doanh, đồng thời hạn chế được rủi ro vì khả năng bán chéo sản phẩm và hỗ trợ nhau của các dịch vụ tương hỗ. s Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: Chuyên doanh ở đây thé hiện rang các công ty thành lập nên chỉ chuyên môn hóa về hoạt động kinh doanh chứng khoán chứ không đa dạng hóa lĩnh vực. Không như các ngân hàng thành lập công ty thành viên là CTCK, mô hình này làm giảm được những rủi ro xảy ra với hệ thống ngân hàng, tác động xấu đến bộ máy tài chính của đất nước, đồng thời tạo môi trường hoạt động riêng biệt cho TTCK phát triển. Theo loại hình tổ chức SV: Đoàn Quang Thanh 6 Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập GVHD: ThS Đặng Ngoc Biên Các loại hình tô chức của CTCK gồm: s Công ty cô phần: CTCP do nhiều người góp vốn sở hữu chung công ty và trở thành cô đông.
Họ là những người chịu trách nhiệm về nợ và tài sản của công ty, tùy thuộc vào tỷ lệ đóng góp vốn mà phạm vi trách nhiệm là lớn hay nhỏ. “se Công ty trách nhiệm hữu han: Có sự giống nhau của công ty trách nhiệm hữu hạn và CTCP khi các thành viên cổ đông đều góp vốn vào nhằm sở hữu công ty, vì vậy họ có trách nhiệm và nghĩa vụ với nợ, tài sản của DN đó. s Công ty hợp danh: Công ty hợp danh có ít nhất 02 thành viên là thành viên hợp danh cùng sở hữu công ty. Ngoài ra các chủ thể khác có thể góp vốn cho công ty trở thành thành viên góp vốn.
Họ chịu trách nhiệm ít hơn so với thành viên hợp danh, tùy theo tỷ lệ vốn góp của mình. Ngoại trừ hình thức CTCP, hai loại hình tổ chức còn lại không được phép phát hành chứng khoán. Theo hình thức kinh doanh “ Công ty môi giới: Công ty chủ yêu môi giới chứng khoán thông qua hỗ trợ tạo điều kiện giao dịch cho khách hàng và kinh doanh chứng khoán. “se Công ty dau tư ngân hang: Với tên khác là công ty bảo lãnh phát hành, công ty này chủ yếu bảo lãnh và phân phối chứng khoán cho các doanh nghiệp phát hành ra công chúng với mức giá gồm giá mong muốn của khách hàng và chi phí thù lao.
“ Công ty giao dich phi tập trung: Thi trường OTC là thị trường không qua trung tâm giao dịch, mua bán các loại chứng khoán chưa niêm yết, chủ yếu do các công ty này đảm nhận. Họ giao dịch chứng khoán trên thị trường phi tập trung. Ngoài ra, công ty giao dịch phi tập trung còn cung cấp những dịch vụ tư vấn đầu tư, niêm yết chứng khoán trên sàn hoặc ủy quyền các giao dịch trên sàn giao dịch phi tập trung. s Công ty buôn bán chứng khoán: Công ty này có hoạt động chính là tự doanh chứng khoán băng nguồn vốn của mình.
Bởi thế công ty cần bán được chứng khoán với giá cao đề đạt được lợi nhuận tốt. Vai trò cua công ty chứng khoán Bằng các nghiệp vụ đặc biệt, các CTCK đóng vai trò không thể thiếu trong hệ thống tài chính, góp phần vào việc luân chuyền vốn và dòng tiền trong nền kinh tế. Từ đó giúp phát triên TTCK nói riêng và cả nền kinh tế nói chung. SV: Đoàn Quang Thanh 7 Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập GVHD: ThS Đặng Ngoc Biên s* Cau nôi giữa cung — cau chứng khoán CTCK với những nghiệp vụ đặc biệt, là trung gian luân chuyên dòng vôn trong nên kinh tê, đưa nguôn vôn nhàn rôi đên với những nơi cân vôn trên thị trường sơ câp và thứ câp.
Trên thị trường sơ cấp: Chỉ có sự làm việc giữa CTCK và nhà phát hành ở trên thị trường này: các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn ngoài thị trường dé tăng vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh hoặc cơ cấu nợ; và các CTCK giúp các doanh nghiệp chao bán cô phiếu hoặc trái phiếu chuyển đổi thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Với bộ máy làm việc chuyên nghiệp cùng đội ngũ nhân sự giàu kinh nghiệm, CTCK hoàn toàn phù hợp là trung gian môi giới vả tư van giao dich cho các chủ thể tham gia. Mức giá chào bán sẽ do hai bên quyết định thông qua dau giá, CTCK sẽ định giá chứng khoán công ty phát hành trước khi thực hiện đấu giá, đảm bảo cho giá hợp lý nhất và mang lại nguồn phí cho CTCK. Trên thị trường thứ cấp: CTCK là trung gian, thu hút các NĐT tham gia vào thị trường, góp phần làm tăng tính thanh khoản.
Trên thị trường có đa dạng sản phẩm, hàng hóa cho NĐT lựa chọn như cô phiếu, trái phiếu. Phần đông các NĐT thích lựa chọn chứng khoán có khả năng thanh khoản tốt vì có thé dé dàng bán chúng dé chuyén đôi thành tiền và ngược lại, họ dễ dàng mua được chứng khoán đó. Hơn nữa, những chứng khoán thanh khoản tốt ít có khả năng bị thao túng giá bởi các nhà đầu tư có vốn lớn hoặc quỹ đầu tư thực hiện mua bán trao tay. Ở đây, CTCK là trung gian với HĐMG, tư vấn cho các NĐT các chứng khoán tốt hay giúp họ giảm thiéu tối đa thiệt hại tài sản của mình.
Góp phần điều tiết và bình 6n giá trên thị trường TTCK là kênh dẫn vốn và điều tiết lượng tiền quan trọng trong nền kinh tế. Vì thế một biến động nhỏ xảy ra trên TTCK cũng có thê dẫn đến những ảnh hưởng lớn ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Hơn nữa, các NDT lại là những người trực tiếp cung cấp vốn và đưa tiền vào TTCK, thì khủng hoảng trên TTCK sẽ gây ra khủng hoảng tâm ly đám đông của người đầu tư, khiến họ rút toàn bộ số tiền đầu tư lại và tạo ra khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Các CTCK là những tổ chức đóng góp vào việc ngăn chặn những việc như vậy xảy ra.
Bang nghiệp vụ tự doanh chứng khoán bang nguồn vốn của mình hoặc quỹ dự trữ chứng khoán, các công ty tham gia mua vào khi thấy có dấu hiệu thị trường giảm quá sâu, các cô phiêu xuông giá thâp và bán ra khi giá lên cao quá SV: Đoàn Quang Thanh 8 Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập GVHD: ThS Đặng Ngoc Biên nhằm can thiệp vào thị trường, điều chỉnh, bình 6n giá. Day vừa là nghiệp vụ dem đến nguồn thu cho các công ty khi mua bán tốt, lại vừa là hành động mang tính tích cực giúp nâng đỡ thị trường chung. “+ Cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán: CTCK cung cấp các dịch vụ hữu ích cho các chủ thé tham gia trên thị trường, góp phần giúp cho TTCK hoạt động hiệu quả: > CTCK là trung gian giao dịch, tư van va giúp giảm thiểu chi phí giao dịch cho các NDT. Cụ thé, để diễn ra một giao dịch giữa bên mua và bên bán giống như các hàng hóa thông thường sẽ mat rất nhiều tiền của, thời gian cho việc gặp mặt, thâm định sản phẩm dẫn đến “thuận mua, vừa bán”.
Chứng khoán là hàng hóa đặc biệt khi nhà đầu tư chỉ sở hữu các giấy tờ có giá chứ không phải giá trị hữu hình nên với nghiệp vụ môi giới chuyên nghiệp, uy tín của CTCK ở giữa giúp giảm thiểu những chi phí trên, mà vẫn điều tiết được cung cầu trên thị trường, người mua vẫn có thể gặp được người bán, giao dịch trơn tru. > CTCK giúp NDT định giá cho khoản dau tư của mình thông qua Sở giao dịch và thị trường OTC: e Trên thị trường sơ cấp: Việc phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ do CTCK bảo lãnh phát hành, tư van, hỗ trợ và đưa ra mức giá phù hợp. e Trên thị trường thứ cấp: Các CTCK giúp đảm bảo giá chứng khoán được giao dịch tuân theo quy luật cung cầu. Bên cạnh đó, CTCK đưa ra các dịch vụ hỗ trợ khác, tối đa hiệu qua giao dịch cho các NDT.
CTCK là nhân tố không thé thiếu trong hoạt động của TTCK. Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán 1. Các hoạt động nghiệp vụ a) Hoạt động môi giới Theo giáo trình Thị trường chứng khoán, trường học viện tài chính định nghĩa: “Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán chứng khoán cho KH dé hưởng hoa hồng. Theo đó, CTCK đại diện cho KH tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dich tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính KH là người phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình”.
Vì vậy, ở bất kỳ CTCK nào thì HĐMG gồm có 02 hoạt động: Tư vấn hỗ trợ KH trong quá tình ra quyết định giao dịch chứng khoán và đại diện KH giao dịch. Do những đặc điểm của HĐMG chứng khoán yêu cầu những người môi giới chứng SV: Đoàn Quang Thanh 9 Ngân hàng 57A Chuyên dé thực tập GVHD: ThS Đặng Ngoc Biên khoán phải có đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là sự trung thực, dé dam bảo lợi ích tốt nhất cho KH. Song song yêu cau về phẩm chat, dé làm được nghề MGCK cần có những kỹ năng nhất định, bao gồm: %* *. Ky năng tìm hiểu khách hàng: Một NVMG là người trực tiếp chăm sóc khách hang, đáp ứng những nhu cầu cần thiết của họ.