Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sản xuất trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sản xuất tại công ty TNHH DK YK Hà Nội SB Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình sản xuất chỉ may tại công ty TNHH DK YK Hà Nội SB. CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ SAN XUẤT TRONG DOANH NGHIEP 1. Khái niệm sản xuất Giáo trình Từ điển kinh tế học của tác giả Nguyễn Văn Ngọc (2007) nêu khái niệm như sau: “Sản xuất là hoạt động kết hợp các đầu vào nhân tố như lao động, tư bản, đất đai và nguyên liệu dé tạo ra hang hóa và dịch vụ”. Theo kinh tế chính trị Mác - Lênin có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất: tư liệu lao động, sức lao động và đối tượng lao động.
- Đối tượng lao động: là một bộ phận của tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. Có hai loại đối tượng lao động: + Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên, có thê đề cập đến như đất đá, khoáng sản, thủy hải sản. Chúng là đối tượng lao động của ngành công nghiệp khai thác. + Loại thứ hai được tác động trước đó và là đối tượng lao động của ngành công nghiệp chế biến, ví dụ sợi dệt, vải,.
- Tư liệu lao động: là một hoặc các vật dẫn truyền sự tác động của con người lên đối tượng lao động, mục đích biến đổi chúng thành các sản pham nhăm đáp ứng nhu cầu của con người trong cuộc sống. - Sức lao động: là tổng hợp trí và thể lực của mỗi con người, chúng được sử dụng trong suốt quá trình con người lao động. Phân loại hoạt động sản xuất , 1. Dựa vào tinh liên tục cua qua trình sản xuất + Sản xuất gián đoạn: Chỉ xử lý, gia công một số lượng nhỏ mỗi loại sản phâm nhưng số chủng loại sản phâm lại rất đa dạng.
Trong loại sản xuất này, các bộ phận sẽ được bồ trí theo nhiệm vụ, các thiết bị máy móc có thé thực hiện được các công việc khác nhau vì vậy tính linh hoạt của hệ thống sản xuất là cao. + Sản xuất liên tục: sản xuất một lượng lớn chỉ một loại sản phẩm hay một nhóm sản pham. Ở đây, các thiết bi, máy móc được trang bị để sản xuất duy nhất một chủng loại sản pham vì vậy có thé nói hệ thống sản xuất này không có tính linh hoạt. Dựa vào két câu sản phâm cuối cùng + Sản xuất hội tụ: là dạng sản xuất mà từ nhiều bộ phận ghép nối thành một sản phẩm hoàn thiện, tính da dang của sản phẩm cuối khá nhỏ.
Ví dụ sản xuất các phương tiện ô tô, xe máy, sản phẩm đồ điện dân dụng,. + Sản xuất phân kỳ: từ một hoặc một vài loại nguyên vật liệu sản xuất được rất nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau. + Sản xuất song song: doanh nghiệp có ít loại sản pham, ít loại nguyên liệu, các sản phẩm hoàn thiện sẽ được tạo nên từ rất ít các yếu tố và có thể là từ một yếu tô, ví dụ ngành công nghiệp sản xuất bao bì. Dựa vào tính chất lặp lại + Sản xuất đơn chiếc: có đặc điểm số chủng loại sản phẩm đầu ra rất nhiều tuy nhiên mỗi loại chỉ được sản xuất với sản lượng rất nhỏ.
Quá trình sản xuất chỉ được tiến hành một lần, thường không lặp lai. + Sản xuất đại trà: có số loại sản phẩm ít, không đa dạng nhưng lượng sản pham đầu ra lại rất nhiều. Quá trình sản xuất này hiếm khi có sự thay đôi trên thị trường, khá ồn định. + Sản xuất theo lô: có số loại sản phẩm khá đa dạng, lượng sản xuất đầu ra của mỗi loại sản phẩm lại chưa đủ nhiều để hình thành nên được những dây chuyền sản xuất độc lập.
Quản lý sản xuất 1. Khái niệm quản lý sản xuất Những biến có ngẫu nhiên Các yếu tố đầu vào (inputs) " Cae yeu to dau ra = Dat dai Kiem tra Điều chinh (outputs) ~ Nguyên vật liệu Qua trình san xuất - Hàng hoa = Thiet bị nha xương ~ Dich vụ ~ Lao động - Ô nhiềm môi - Von trường = Quan lý Hình 1.1: Sơ đồ quá trình sản xuất Nguồn: TS. Nguyễn Văn Nghién (2008), Quản lý sản xuất và tác nghiệp Quản lý sản xuất theo TS. Nguyễn Văn Nghiến trong giáo trình Quản lý sản xuất và tác nghiệp (2008): “Quản lý sản xuất là quản lý quá trình biến các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, đất đai; lao động; vốn và quản lý thành hàng hoá và dịch vụ mong muốn”.
Nếu xét trên quan điểm quá trình quản lý: “Quản lý sản xuất là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm tra hệ thong sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra”. Nhiệm vụ của quản lý sản xuất là tổ chức, thiết kế các hệ thống sản xuất, mục đích biến đổi nguyên vật liệu đầu vào thành các thành phẩm dau ra sau mỗi quá trình sản xuất, nhưng sẽ tạo ra thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Mục tiêu quản lý sản xuất 1. Đảm bảo chất lượng của sản phẩm Mỗi loại sản phẩm được sản xuất ra cần có sự phù hop với những tiêu chuẩn được đặt ra từ khâu thiết kế và phải phù hợp với những yêu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, chủng loại.
Có thể đánh giá chất lượng sản phâm bằng chính những tiêu chuẩn do doanh nghiệp đặt ra hoặc so sánh với các sản phẩm cùng loại của các công ty cạnh tranh khác trong ngành. Bảo đảm và rút ngắn thời gian giao hàng Trong sự cạnh tranh của thị trường hiện nay, ba nhân tố: thời gian giao hàng, chất lượng và giá cả là nhân tố quyết định sự thành công của việc đáp ứng nhu cau đặt hang. Chúng ta có thé tối thiểu thời gian sản xuất qua giảm thiểu thời gian chờ đợi, loại bỏ công việc thừa không cân thiệt quá trình sản xuât. Giảm chỉ phí sản xuất Điều này có mục đích giảm giá hàng bán để cạnh tranh tốt hơn trên thị trường, bên cạnh đó giúp tối đa hoá lợi nhuận.
Ở đây, bộ phận sản xuất không thể quyết định về lợi nhuận của sản phẩm vì không tham gia vào quyết định định giá thang bán ra, tuy nhiên bộ phận sản xuất có nhiệm vụ tối thiểu hóa chi phí đối với một mức chất lượng xác định. Xây dựng hệ thông sản xuất có độ linh hoạt cao Sự linh hoạt trong tô chức có nghĩa khả năng phản ứng của doanh nghiệp phải nhanh với những biến động trong hoạt động sản xuất và cạnh tranh trên thị trường. Hiện nay, doanh nghiệp cần tích cực đào tạo nguồn nhân lực và dự trữ năng lực sản xuât đê có thê đạt được mục tiêu này. Dé đứng vững trên thị trường trong thời đại hiện nay, doanh nghiệp can phải đáp ứng được những nhu cầu của thị trường về số lượng sản phẩm.
Khi dự đoán đúng được dung lượng của thị trường trong thời gian tới, doanh nghiệp có kế hoạch sản xuất phù hợp, tránh được những thiệt hại về chỉ phí tồn kho, không những thế còn đóng cơ hội cho doanh nghiệp khác nhảy vào lĩnh vực ` này. Nội dung chủ yếu của quản lý sản xuất 1. Dự báo nhu cau sản xuất sản phẩm “Dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm là nội dung rất quan trọng đầu tiên, là xuất phát điểm của quản lý sản xuất, để đáp ứng nhu cầu thị trường mọi hoạt động thiết kế, hoạch định và tô chức điều hành hệ thống sản xuất đều phải căn cứ vào kết quả dự báo nhu cầu sản xuất” - TS. Nguyễn Văn Nghiến, giáo trình Quản lý sản xuất và tác nghiệp (2008).
Có 2 phương pháp đề dự báo nhu cầu sản phâm: phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Cụ thê: e Phương pháp dự báo định tinh được chia thành 4 loại: - Lay ý kiến của ban lãnh đạo điều hành - Lấy ý kiến của bộ phận bán hàng - Nghiên cứu thị trường người tiêu dùng - Lay ý kiến của chuyên gia e Phương pháp dự báo định lượng được chia thành 2 loại: - Phương pháp hồi quy: Là căn cứ vào quan hệ nhân quả của sự vật dé đoán sự thay đôi và phát triển của sự vật đó. - Phương pháp dự báo theo trình tự thời gian: Là căn cứ vào các số liệu được thống kê trong lịch sử của nhu cầu thị trường đề dự báo. Thiết kế sản phẩm và lựa chọn quá trình sản xuất a.
Thiết kế sản phẩm “Thiết kế sản phẩm là nhằm đưa ra thị trường những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với khả năng sản xuất của doanh nghiệp” - TS. Nguyễn Văn Nghién, giáo trình Quản lý sản xuất và tác nghiệp (2008). Việc thiết kế được dựa theo 4 chỉ tiêu sau: - Khả năng tiềm tàng của sản phẩm: các sản phẩm mới đưa ra thị trường có tạo được ưu thé so với các công ty đối thủ hoặc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng hay không. - Tốc độ phát triển của sản phẩm: cần bao nhiêu lâu ké từ lúc nghiên cứu thiết kế cho đến sản xuất thử cho đến lúc sản phẩm được người tiêu dùng tiêu thụ trên thị trường? - Chi phí cho sản phẩm: có bảo dam là chi phí của một đơn vị thành phẩm sản xuất ra là thấp nhất đến mức có thé hay không? - Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phâm: được đem ra so sánh với mức dự kiến trong ngân sách cho hoạt động này.
Lựa chọn quả trình sản xuất Tuy thuộc vào đặc diém của san pham mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn loại quá trình sản xuât sao cho phù hợp. Có các loại quá trình sản xuât sau: - Căn cứ theo quá trình sản xuât tông hop chung: sản xuât đơn chiéc, sản xuat theo lô, sản xuât hàng loạt, sản xuât liên tục. - Căn cứ vào khả năng liên tục sản xuất sản phẩm: quá trình sản xuất liên tục, quá trình sản xuất gián đoạn. - Căn cứ vào kết cấu và đặc điểm chế tạo sản phẩm: quá trình lắp ráp, quá trình phân tích, quá trình sản xuất hỗn hợp.
- Căn cứ vào nhu cầu của khách hàng: sản xuất đề dự trữ, sản xuất theo đơn hàng, lắp ráp theo đơn hàng.3 Lập kế hoạch tổng hợp a.