CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN KINH DOANH DỊCH VU LOGISTICS QUOC TE 1. Khai quát về kinh doanh dịch vu Logistics quốc tế 1. Khái niệm kinh doanh dịch vu Logistics quốc té Logistics là thuật ngữ đã xuất hiện trên thế giới cách đây rất lâu, bắt đầu từ những năm Thế chiến I trong lĩnh vực quân sự. Theo dòng chảy thời gian và sự phát triển của kinh tế, Logistics được nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất, thương mại, vận tải, kho bãi,.
và nhiều lĩnh vực khác. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về thuật ngữ này. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals -CSCMP), Logistics được định nghĩa la “mot phan cua quan tri chuỗi cung ứng bao gốm việc hoạch định, thục hiện, kiểm soát việc vận chuyển va dự trữ hiệu quả hang hóa, dịch vu cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ dé đáp ứng yêu cầu của khách hàng. ” Một quan điểm khác về Logistics được Hội đồng quan tri Logistics Hoa Kỳ đưa ra là: “Logistics là qua trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chỉ phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tôn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cau của khách hang.” Tại Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 đã định nghĩa về dich vụ Logistics nhưng không đề cập đến Logistics.
Theo Điều 233, “Dich vu logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiễu công việc bao gom nhận hang, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. ” Dù có nhiều quan điểm khác nhau về Logistics ở các hoạt động, nhưng ban chất vẫn là giao nhận vận tai hang hóa. Vì vay, “Logistics chính là dịch vụ tong hợp của vận tải va giao nhận hàng hóa trong kinh doanh dich vu quốc tế” (Theo Nguyễn Thị Hường, 2018). Từ những quan điểm trên về Logistics, có thê thay dịch vu Logistics là các hoạt động gắn liền với quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức va quản lý khoa học quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ.
từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bao cho quá trình sản xuất xã hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng. Dịch vu Logistics, do đó được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng, dịch vu Logistics là hoạt động thương mại bao gồm một chuỗi các dịch vụ được tổ chức và quản lý một cách khoa học gắn liền với các khâu của quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong nền sản xuất xã hội. Theo nghĩa hep, dịch vu Logistics là hoạt động thương mai bao gồm các dịch vụ bồ sung về vận chuyên, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn khách hàng và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa được tổ chức một cách hợp lý và khoa học nhằm đảm bảo quá trình phân phối lưu chuyển hàng hóa một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Như vậy, bản chất của dịch vụ Logistics là tổng hợp các hoạt động quản lý dòng luân chuyên hàng hóa, vật tư từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ và đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Các hoạt động bao gồm: nhà kho — kho bãi, đóng gói hàng hóa, boc dỡ hang hóa, vận chuyên nội dia, vận chuyên quôc tê, thủ tục hải quan,. Từ định nghĩa về Logistics và dịch vụ Logistics, chúng ta có thé hiểu “kinh doanh dich vụ Logistics là quá trình tổ chức các dich vụ liên quan đến sản xuất — phân phối - trao đổi và đưa hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng cudi cùng với tong chi phí hợp lý dé thu được lợi nhuận” (Theo Nguyễn Thị Hường, 2018). Có rất nhiều loại hình kinh doanh dich vụ Logistics, nhưng trong phạm vi giao nhận vận tải có thê chia lam Logistics quôc tê và Logistics nội dia. Tóm lại, kinh doanh dịch vụ Logistics quốc tế là tong hợp của hai loại hình kinh doanh là kinh doanh dịch vụ giao nhận và kinh doanh dịch vụ vận tải quốc tế.
Trong đó, kinh doanh dịch vụ vận tai quốc té là quá trình tô chức các hoạt động chuyên chở đề đi chuyền hàng hóa từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế và thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp vận tải. Còn kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa quốc té là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình thực hiện các dịch vụ tổng hợp có liên quan đến giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác từ quôc gia này sang quôc gia khác, như tổ chức vận chuyển lưu kho lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác cũng như lập kế hoạch cho các hoạt động đó nhằm mục đích sinh lợi. Vai trò của kinh doanh dịch vụ Logistics quốc té Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nên kinh tế thé giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, kinh doanh dịch vụ Logistics quốc tế ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng, mang lại nhiều lợi ích cho các chủ thé khác nhau trong nên kinh tế thé giới (nên kinh tế thé giới, nên kinh tế quốc gia, doanh nghiệp và người tiêu dùng), thể hiện ở những điểm sau: 1. Đối với nén kinh tế thé giới - Dich vụ Logistics là công cụ hữu hiệu dùng dé liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh đoanh đạt hiệu quả cao.
- Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế. - Dich vu Logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế. Đối với nén kinh tế quốc gia - Dịch vu Logistics phát triển góp phan tăng cường mối quan hệ kinh tế khu vực. - Dịch vụ Logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chỉ phí trong hoạt động lưu thông phân phối, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Dịch vụ Logistics phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên lợi thế cạnh tranh cho mỗi quốc gia, từ đó tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài. - Dịch vụ Logistics phát triển góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, nâng cao đời sống nhân dân. Đối với doanh nghiệp - Dịch vu Logistics góp phan nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, sử dung hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. - Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm yếu tố đúng thời gian, đúng địa điểm (just in time), nhờ đó đảm bảm cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra theo nhịp độ đã định, góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Dịch vụ Logistics góp phan gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận thông qua việc thực hiện các dịch vụ lưu thông bé sung (cac dich vụ tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu phân phối, lưu thông). Đối với người tiêu dùng - Dịch vụ Logistics phát triển sẽ làm tăng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng. - Dịch vụ Logistics phát triển làm tăng khả năng đáp ứng nhu cau, như thời gian, tiêu dùng hàng hóa và tạo cơ hội cho người tiêu dùng được sử dụng những sản phẩm mà trong nước họ chưa có khả năng sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chất lượng thấp hơn nước khác.
Các phương thức kinh doanh dịch vụ Logistics quốc tế Các dịch vụ Logistics theo quy định của WTO được phân loại thành 3 loại: (1) Dich vu Logistics cơ bản (Core freight Logistics services): là dịch vụ cơ ban trong hoạt động Logistics mà cần phải tiễn hành tự do hóa đề thúc day sự lưu chuyển dịch vụ, gồm: + Dịch vụ xếp đỡ hàng hóa, trong đó bao gồm: xếp đỡ hàng container và xếp dỡ hàng hóa khác. + Dịch vụ lưu kho và chuyền hàng qua kho. + Dịch vụ đại lý vận tải. + Dịch vụ bồ trợ khác, bao gồm cả dịch vụ môi giới hải quan.
(2) Dịch vụ Logistics có liên quan đến vận tải (Related freight Logistics services): là các dịch vụ có liên quan tới cung cấp có hiệu quả dich vu Logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của Logistics bên thứ 3 phát triển, bao gồm: + Dịch vụ vận tải đường biến. + Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa. + Dịch vụ vận tải đường hàng không, bao gồm cả gom hàng và thuê mướn máy bay và ti€p viên. + Dịch vụ vận tải đường sắt, bao gôm cả gom hàng.
7 + Dịch vụ vận tải đường bộ, bao gồm gom hàng, thuê mướn các phương tiện thương mại kèm người điều khiển hoặc thuê phương tiện thương mại không kèm người điều khiển. + Dịch vụ thử nghiệm và phân tích kỹ thuật. + Dịch vụ chuyên phát nhanh. + Dịch vụ đại lý môi giới hoa hồng.
+ Dịch vụ bán buôn. + Dịch vụ bán lẻ. (3) Các dich vu Logistics không cơ bản (Non-core freight Logistics services): + Dịch vụ liên quan đến thông tin. + Dịch vụ đóng gói hàng.
+ Dịch vụ tư vân quản lý và các dịch vụ liên quan khác. Xu hướng kinh doanh dịch vụ Logistics quốc tế Theo dự báo, trong vài thập niên đầu thế kỉ XXI, ngành kinh doanh dịch vụ Logistics quốc tế sẽ phát triển theo các xu hướng chính sau: Thứ nhất, ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử ngày càng phổ biến và sâu rộng trong các lĩnh vực của Logistics. Việc ứng dung công nghệ thông tin, thương mại điện tử như: hệ thống thông tin quản trị đây chuyền cung ứng toàn cầu, công nghệ nhận dạng băng tần số vô tuyến (RFID),.