CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về bồi dưỡng học sinh giỏi 1. Về bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THCS Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt nam, từ đời xưa ông cha ta đã rất chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đúc rút thành một kinh nghiệm quý báu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đến thăm Văn miếu Quốc Tử Giám chúng ta thấy trên văn bia còn ghi: “Các bậc hiền nhân là yếu tố cốt tử đối với một chỉnh thể.
Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước tăng tiến mạnh mẽ và phồn thịnh. Khi yếu tố này kém thì quyền lực đất nước bị suy giảm” và “Những người tài giỏi, có học thức là một sức mạnh đặc biệt đối với đất nước”. Ngay sau khi Cách mạng tháng tám thành công, ngày 20/11/1946, trong bài viết “Tìm người tài đức”, Hồ Chủ Tịch khẳng định: “Nước nhà còn phải kiến thiết, kiến thiết phải có người tài, trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu gì người có tài, có đức…”. Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thấy, dân tộc Việt Nam có tiềm năng, trí tuệ vô cùng phong phú, có điều chúng ta chưa phát hiện, chăm sóc, bồi dưỡng để có thể phát huy hết tiềm năng trí tuệ còn tiềm ẩn.
Ngày nay, GD&ĐT được ưu tiên, đặt giáo dục ở vị trí quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội có cơ chế, chính sách khuyến khích cho giáo dục phổ thông và hệ thống giáo dục quốc dân. Nghị quyết 14 – NQ/TW của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (tháng 1 - 1979) đã chỉ rõ: “Cần coi trọng việc hứng thú, thói quen và phương pháp tự học của học sinh, hướng dẫn họ biết cách nghiên cứu sách giáo khoa, sách báo khoa học, thảo luận chuyên đề, tập làm thực nghiệm khoa học” [25], từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng vào dạy học và bồi dưỡng giáo viên phục vụ thay sách cải cách giáo dục. Bồi dưỡng HSG là nhiệm vụ trọng tâm của của ngành giáo dục và đào tạo, cũng là một hoạt động mang tính đặc thù cao: Người học là học sinh giỏi, có năng khiếu theo môn học; người dạy là những giáo viên có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm giảng dạy.
Trong những năm qua, ngành giáo dục và đào tạo đã đóng góp nhiều nhân tài cho xã hội. Nhờ có các nội dung giáo dục toàn diện mà các em có điều kiện bộc lộ năng khiếu, tài năng. Nếu cha mẹ, bạn bè và đặc biệt là thầy, cô giáo cảm nhận, phát hiện, nâng đỡ, bồi dưỡng mầm mống năng khiếu, kích thích niềm say mê học tập thì biểu hiện của năng khiếu ngày càng rõ hơn. Năng khiếu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được bồi dưỡng sẽ phát triển và ngược lại năng khiếu không được phát hiện, bồi dưỡng thì sẽ mất dần.
Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS là để phát huy hết khả năng phát triển “tiềm tàng” ở học sinh, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấp học tiếp theo, thực hiện chiến lược “Bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Mặt khác, kết quả học sinh giỏi là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển của một trường THCS. Thành tích học sinh giỏi khẳng định uy tín của nhà trường. Công tác đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi, đội ngũ công dân tương lai của đất nước đồng hành với sự phát triển trí tuệ vượt bậc, toàn diện là mục tiêu quan trọng của ngành giáo dục và đào tạo, đã được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong ba mục tiêu chiến lược của nền giáo dục nước nhà.
Bồi dưỡng học sinh giỏi giúp học sinh hoàn thiện tri thức, phát huy hơn nữa những năng lực, năng khiếu của mình. Thực hiện công việc bồi dưỡng học sinh giỏi tức là giáo viên trực tiếp tác động đến học sinh bằng việc truyền thụ tri thức, rèn luyện kỹ năng, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề, bổ sung kiến thức còn thiếu ở các em, định hướng và phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu…Việc bồi dưỡng học sinh giỏi là cần thiết bởi nó quyết định đến hiệu quả cuối cùng là học sinh được trang bị những kiến thức vững chắc và cũng từ đó tính sáng tạo của các em mới được phát triển. Thực tế đã cho thấy, ở các trường THCS hiện nay, việc bồi dưỡng học sinh giỏi đã được thực hiện với sự đầu tư khá lớn và mang lại những kết quả rất khả quan. Hiện nay, nhận thức và xác định rõ vai trò công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi cấp Trung học cơ sở, Nghị quyết số 44/2009/NQ- HĐND ngày 02/12/2009 của HĐND - UBND huyện Thanh Trì đã thông qua 03 Đề án, trong đó có Đề án “Bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu trong các trường Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Thanh Trì giai đoạn 2009- 2015”, với mục tiêu phấn đấu mỗi năm huyện Thanh Trì đạt được số lượng học sinh giỏi các cấp là: - Cấp Thành phố có từ 30 - 50 học sinh đạt giải (Đối với cấp Tiểu học) và có từ 50 - 70 học sinh đạt giải (Đối với cấp THCS ở 10 môn học trong đó có bộ môn Sinh học).
- Cấp Huyện có từ 450 - 470 học sinh đạt giải (Đối với cấp Tiểu học) và có từ 380 - 400 học sinh đạt giải (Đối với cấp THCS ở 10 môn học trong đó có bộ môn Sinh học) [26]. Để thực hiện hiệu quả Đề án, Phòng giáo dục và đào tạo đã quan tâm chú trọng chỉ đạo đổi mới công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi, từ việc xây 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựng kế hoạch đến việc triển khai thực hiện kế hoạch, kết quả học sinh giỏi lớp 9 các cấp được coi là một trong các tiêu chí thi đua trong các nhà trường, trong đó có bộ môn Sinh học. Như vậy, vấn đề bồi dưỡng HSG cấp THCS hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào, và ở huyện Thanh Trì cũng mới chỉ có Nghị quyết của HĐND- UBND huyện liên quan đến hoạt động này. Lược sử nghiên cứu việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi - Sinh học 9 - Nghiên cứu về vai trò của chuyên đề như một biện pháp dạy học: Bàn về vấn đề nghiên cứu việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi trong dạy học Sinh học 9, đã có không ít các nhà nghiên cứu quan tâm.
Trong đó phải kể đến tác giả Huỳnh Quốc Thành với cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi 9 và luyện thi vào lớp 10 chuyên môn Sinh học” năm 2011, sách được biên soạn nhằm hệ thống hóa, mở rộng và nâng cao kiến thức Sinh học để tham dự kỳ thi HSG môn sinh học lớp 9 và thi vào lớp 10 chuyên sinh. Trong đó, tác giả đã xây dựng phần thứ hai – Sinh vật và môi trường với 3 chuyên đề: Sinh vật và môi trường; hệ sinh thái; con người, dân số, môi trường, bảo vệ môi trường. Mỗi chuyên đề được tác giả trình bày theo một trình tự thống nhất: Câu hỏi lý thuyết, phân loại dạng bài tập, bài tập mở rộng và nâng cao [33]. Cũng đề cập đến vấn đề trên, cần phải kể đến các tác giả Nguyễn Văn Sang, Trần Tân Phú, Lê Sơn Hà với cuốn "108 câu hỏi và bài tập Sinh học 9 – THCS" năm 2005 [33], tác giả Ngô Văn Hưng với cuốn “Giới thiệu đề thi và đáp án thi chọn học sinh giỏi quốc gia môn Sinh” năm 2005 [18], tác giả Vũ Đức Lưu với cuốn "Luyện tập Sinh học 9" năm 2008 [22], các tác giả Mai Sỹ Tuấn, Cù Huy Quảng với cuốn “Tài liệu chuyên sinh học trung học phổ thông – Sinh thái học” năm 2011[35], Phạm Văn Lập, Đỗ Thị Thanh Huyền với cuốn "Ôn thi vào lớp 10 trung học phổ thông chuyên môn sinh học" năm 2013 [20], hay cuốn "Phương pháp giải nhanh các dạng bài tập Sinh học" năm 2013 của tác giả Phan Khắc Nghệ [24], cuốn "Một số vấn đề phương pháp dạy học sinh học" của các tác giả Đinh Quang Báo, Đặng Thị Dạ Thủy, Đỗ Thị Phượng, Nguyễn Thị Nghĩa năm 2006 [3],.
Tất cả những tài liệu trên, ít nhiều đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi dưới dạng các chuyên đề, câu hỏi và bài tập , nội dung kiến thức cũng như hệ thống các bài tập được sắp xếp theo từng chương hoặc phân loại rõ ràng, nhằm mục đích phục vụ hiệu quả trong việc ôn luyện và khắc sâu, nâng cao kiến thức phù hợp với đối tượng học sinh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nghiên cứu dạy học phần Sinh thái học ở phổ thông Trong những năm gần đây cũng có nhiều đề tài đề cập đến nội dung phần Sinh thái học. Có thể kể đến những luận văn, luận án đã bảo vệ thành công có liên quan đến đề tài nghiên cứu của chúng tôi như: - Luận án tiến sỹ của tác giả Dương Tiến Sỹ (1999): “Giáo dục môi trường qua dạy học STH lớp 11- THPT”. Tác giả đã kết hợp được những nghiên cứu lý thuyết cơ bản với nghiên cứu khoa học giáo dục để xây dựng một hướng nhìn nhận mới về quá trình dạy học STH, trong đó tiếp cận cấu trúc - hệ thống là phương pháp luận cho việc phân tích nội dung, xác định các phương pháp tích hợp giáo dục môi trường qua dạy học STH không chỉ ở mức khái quát toàn bộ chương chình, mà còn được thể hiện ở việc tổ chức cho từng bài học, từng khái niệm cụ thể theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động của người học, từ đó cho phép tích hợp hữu cơ giữa quá trình dạy - học STH với giáo dục môi trường; trong đó tác giả xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi tìm tòi theo cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống.
Hệ thống câu hỏi này đã tỏ ra có hiệu quả khi tổ chức chuyên đề cho HS nghiên cứu các nội dung STH tích hợp với giáo dục môi trường ở trường trung học [32]. - Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Oai (2003): “Sử dụng CH - BT để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy - học STH lớp 11 - THPT”.