Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề chuyển biến sở hữu trong hệ thống ngân hàng Chương 2: Những chuyển biến về sở hữu trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam và tác động của nó đối với sự phát triển của ngành và nền kinh tế giai đoạn 1986 - nay Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp thúc đẩy chuyển biến về sở hữu trong ngành ngân hàng trong thời gian tới 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ CHUYỂN BIẾN VỀ SỞ HỮU TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỞ HỮU NÓI CHUNG VÀ SỞ HỮU TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG NÓI RIÊNG Ở MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI 1. Một số khái niệm Quan niệm của các nhà kinh điển về sở hữu Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin rất quan tâm tới vấn đề sở hữu dù cho trong các nghiên cứu họ gần như không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh nào về sở hữu, quyền sở hữu, chế độ sở hữu. Khi phê phán quan niệm của Pruđông về sở hữu đất đai và địa tô trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” Mác đã lưu ý đến tính lịch sử của khái niệm sở hữu.
Theo ông sở hữu là một phạm trù lịch sử: “Nếu muốn định nghĩa quyền sở hữu như một quan hệ độc lập, một phạm trù riêng biệt, một ý niệm trừu tượng và vĩnh viễn, thì đó chỉ là ảo tưởng của khoa siêu hình hay của khoa pháp luật” và việc định nghĩa quyền tài sản “không phải là cái gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ sở hữu của quan hệ sản xuất” [1, tr. Theo các nhà kinh điển, về thực chất các quan hệ sở hữu là sự biểu hiện của các quan hệ kinh tế hay nói cách khác nội dung kinh tế của các quan hệ sở hữu quyết định nội dung pháp lý của chúng, song không vì thế mà đồng nhất các quan hệ sở hữu vào các quan hệ sản xuất. Bí mật của sở hữu được bộc lộ ra khi phân tích quan hệ giữa người với người trong sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng xã hội. Với tư cách là quan hệ chi phối lao động, sở hữu đồng thời quy định cả phương thức hoạt động của các chủ thể ở mọi lĩnh vực sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng.
Sở hữu là quan hệ cơ bản, quan hệ xuất phát trong quan hệ sản xuất. 8 Đối với mọi nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sản xuất xã hội chủ nghĩa, việc coi các quan hệ sở hữu là điểm xuất phát trong việc lý giải các vấn đề là cần thiết. Khi phân tích đặc trưng của mọi phương thức sản xuất, người ta phải chỉ rõ vai trò quy định của các quan hệ sở hữu đó với các quan hệ sản xuất và đối với toàn bộ các mặt của xã hội nói chung. Các quan niệm khác về sở hữu: Trong quá trình cải cách kinh tế ở Liên Xô cũ, Trung Quốc, các nước Đông Âu và cả ở Việt Nam, vấn đề sở hữu được quan tâm nghiên cứu.
Thực tiễn đổi mới ở các nước trên đã chỉ ra rằng, nếu không xem xét, giải quyết đúng đắn, triệt để vấn đề sở hữu thì khó có thể đưa nền kinh tế vượt qua tình trạng trì trệ và khủng hoảng. Tuy nhiên, khi đi vào nghiên cứu những vấn đề cụ thể, người ta thấy rằng không thể giải quyết triệt để vấn đề sở hữu nếu không giải quyết những vấn đề lý luận- phương pháp luận về sở hữu, mà bắt đầu từ định nghĩa sở hữu là gì. Các nhà khoa học đã định nghĩa sở hữu theo nhiều cách khác nhau: “Từ điển kinh tế học”, sở hữu được xem như là hình thức chiếm hữu nhất định về của cải vật chất được hình thành trong lịch sử. “Từ điển triết học” định nghĩa: sở hữu là sự chiếm hữu tài sản, sự biểu hiện chiếm hữu tài sản trong xã hội.
“Từ điển tiếng Việt” định nghĩa: sở hữu được xác định là cái mình có. Ngoài ra, còn có một số định nghĩa khác: Chẳng hạn, sở hữu là một loại hình chiếm hữu của cải vật chất hoặc tinh thần trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Sở hữu là mối quan hệ xã hội là quan hệ giữa con người với con người đối với việc chiếm hữu của cải xã hội mà trước hết là tư liệu sản xuất và kết quả lao động của sản xuất [8, tr. Sở hữu là quan hệ giữa lao động với những điều kiện khách quan của lao động.
9 Qua một số định nghĩa trên, có thể thấy rằng khái niệm sở hữu được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào nhiều góc độ xem xét như: góc độ kinh tế, góc độ chính trị và pháp luật. Nhìn chung, các định nghĩa thường nhấn mạnh đến quan hệ giữa người đối với vật trong sở hữu và điều đó đã dẫn người ta đi đến lý giải các vấn đề sở hữu theo trình độ của sự thống nhất giữa yếu tố người và yếu tố vật. Vì vậy, không có một định nghĩa nào phản ánh được đầy đủ tất cả các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị - xã hội và lịch sử của sở hữu. Đi tới sâu xa, bản chất của sở hữu là lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế.
Nếu không có lợi ích thì bản thân sở hữu sẽ không có ý nghĩa gì cả. Sở hữu không có ý nghĩa tự thân mà là phương tiện để con người thông qua nó mà thực hiện lợi ích của mình. Ví dụ, một người nào đó sở hữu một nhà máy, nhưng ngoài sự sở hữu ấy ra, anh ta không có đủ điều kiện cần thiết để đưa nhà máy đó vào họat động thì anh ta sẽ chẳng thu được lợi ích gì và nhà máy đó với anh ta có cũng như không. Tóm lại, ta có thể hiểu: Sở hữu là quan hệ giữa con người với con người đối với việc chiếm hữu của cải và qua quan hệ ấy, con người thực hiện mục đích thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Lý luận về chuyển biến sở hữu trong ngân hàng và tiêu chí đo lƣờng chuyển biến sở hữu trong ngân hàng Đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan tới sự chuyển biến về sở hữu trong hệ thống ngân hàng ở các nước trên thế giới. Mỗi nghiên cứu có một cách tiếp cận khác nhau. Nhưng trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng công trình “Sở hữu của ngân hàng và hoạt động của ngân hàng” (Bank Ownership and Performance)” của các tác giả Alejandro Micco, Ugo Panizza, Monica Yanez như là khuôn khổ lý thuyết để chúng tôi áp dụng cho trường hợp của Việt Nam [34]. 10 Trong tác phẩm này, các tác giả Alejandro Micco, Ugo Panizza, Monica Yanez đã sử dụng số liệu của 119 nước trong giai đoạn 1995-2002 để đánh giá: mối quan hệ sở hữu của ngân hàng với hoạt động ngân hàng cho hai nhóm nước phát triển và đang phát triển.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: trong khi sở hữu có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của ngân hàng ở các nước đang phát triển thì điều này không xẩy ra với các nước phát triển. Cụ thể, các ngân hàng thương mại nhà nước ở các nước đang phát triển dường như có khả năng sinh lời kém hơn và chi phí cao hơn ngân hàng tư nhân, ngân hàng nước ngoài. Đối với hai chỉ số lãi suất tiêu chuẩn: ROA và ROE, ở hầu hết các vùng, các ngân hàng nước ngoài đều có lợi nhuận hơn các ngân hàng trong nước, cả ngân hàng nhà nước và ngân hàng tư nhân. Ngoại trừ Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi nơi các ngân hàng nước ngoài có ít lợi nhuận hơn các ngân hàng trong nước, và các nước công nghiệp nơi các ngân hàng nước ngoài có ít lợi nhuận hơn các ngân hàng tư nhân trong nước nhưng lại nhiều lợi nhuận hơn các ngân hàng nhà nước.
Ở Châu Mỹ Latinh, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng tư nhân trong nước đều có mức lợi nhuận ngang nhau. Ở mọi nơi trên thế giới, các ngân hàng nhà nước đều có lợi nhuận thấp nhất. Lợi nhuận lại đặc biệt khác ở Nam và Đông Á, Châu Mỹ Latinh, Đông Âu. Thậm chí ở các nước công nghiệp, các ngân hàng công có lợi nhuận bằng khoảng một nửa so với các ngân hàng tư nhân.
Nghiên cứu này cũng cho thấy: ở các nước đang phát triển, việc tham gia hoạt động của các ngân hàng nước ngoài sẽ là “cú hích” cho các ngân hàng trong nước nâng cao hiệu quả hoạt động (được thể hiện bởi tổng chi phí thấp hơn) và khả năng cạnh tranh của ngành ngân hàng (được thể hiện bởi lợi nhuận biên thấp hơn). Chính sự hoạt động kém hiệu quả của các ngân hàng trong nước là lý do thu hút các ngân hàng nước ngoài thâm nhập thi trường mới. Sức ép cạnh tranh buộc các ngân hàng trong nước hoàn thiện và hoạt 11 động hiệu quả hơn. Đây là kết quả quan trọng bởi vì nó cho thấy sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài (có thể liên quan với công nghệ mới và các rào cản thâm nhập thấp hơn) dẫn đến sự chuyển biến về sở hữu của ngành ngân hàng cả về qui mô lẫn cấu tạo là một hiện tượng có lợi đóng vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả của ngành ngân hàng ở một số nước đang phát triển.
Các tác giả đã đưa ra một số tiêu chí đánh giá mối quan hệ về sự chuyển biến sở hữu tới hoạt động của hệ thống ngân hàng như thế nào và đó cũng là những tiêu chí mà tôi cố gắng xem xét trường hợp của Việt Nam trong luận văn này: - Đối với hai chỉ số ROA, ROE: ở hầu hết các nước nghiên cứu, các ngân hàng nước ngoài đều có nhiều lợi nhuận hơn các ngân hàng trong nước; ở các nước phát triển ngân hàng tư nhân có nhiều lợi nhuận hơn ngân hàng nước ngoài và cả hai loại hình này đều có nhiều lợi nhuận hơn ngân hàng tư nhân trong nước. Ở mọi nơi trên thế giới ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước đều có lợi nhuận thấp nhất, ở các nước phát triển lợi nhuận của các ngân hàng công bằng khoảng một nửa ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân. - Tổng tài sản và thị phần của ngân hàng cũng phản ánh hoạt động của ngân hàng hiệu quả đến mức nào. Tổng tài sản đánh giá quy mô tuyệt đối và thị phần phản ánh qui mô tương đối của ngân hàng.
- Tổng chi phí và tỷ lệ tổng chi phí trên tổng tài sản.