CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH TƯƠNG TÁC TRÊN TRUYỀN HÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Truyền hình, thuật ngữ tiếng Anh là “television”, cách gọi tắt là “Tivi”. Theo từ điển Tiếng Việt, truyền hình là “là quá trình truyền hình ảnh, âm thanh bằng sóng điện tử vô tuyến”[22].
Theo tác giả Dương Xuân Sơn, thuật ngữ TH dù được dịch theo ngôn ngữ nào cũng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa [27, tr. Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, TH là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến TH (television) bắt nguồn từ hai từ tele có nghĩa là “ở xa” và vison là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [29, tr.123] Đặc trưng của TH chính là hình ảnh và âm thanh. Thực chất cội nguồn trực tiếp của TH chính là điện ảnh.
Điện ảnh cung cấp cho TH những ý tưởng, phương thức truyền thông cũng như hệ thống phương tiện ngôn ngữ phong phú, giúp TH nhanh chóng trở thành một loại TH truyền thông phổ biến, có sức truyền tải cao. Về mặt kỹ thuật, TH được hoạt động theo nguyên lý hình ảnh về sự vật được máy quay ghi nhớ lại biến đổi thành tín hiệu điện trong đó mang thông tin về độ sáng tối, màu sắc. Đó là tín hiệu hình (tín hiệu video). Sau khi được xử lý, hình ảnh được truyền đi trên sóng TH nhờ máy phát sóng hoặc hệ thống dây dẫn.
Tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu rồi đưa đến đèn hình để biến đổi ngược từ tín hiệu thành hình ảnh trên màn hình. Phần âm thanh cũng được thực hiện theo nguyên lý trên rồi phát tín hiệu qua loa. Ở truyền hình có sự kết hợp và kế thừa từ rất nhiều loại hình báo chí, truyền thông khác như: có sự kết hợp công nghệ và phương thức đặc trưng tạo hình và âm thanh từ điện ảnh, tổng hợp được những ưu điểm của các loại hình ra đời sớm hơn như báo in, phát thanh. và nhờ có công nghệ, kỹ thuật cao, hiện đại, TH đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, định hướng dư luận xã hội.
17 c Tuy nhiên vì phụ thuộc vào công nghệ kỹ thuật nên việc sản xuất chương trình TH cũng yêu cầu cao hơn các loại hình khác. Như vậy, truyền hình là một công nghệ thuộc lĩnh vực điện tử viễn thông, nó bao gồm tập hợp nhiều thiết bị điện tử. Có khả năng thu nhận tín hiệu sóng vô tuyến cũng như truyền dẫn các tìn hiệu điện mang hình ảnh và âm thanh được mã hóa, được phát dưới dạng sóng vô tuyến hoặc thông qua hệ thống cáp quang, hoặc cáp đồng trục. TH đáp ứng cùng một lúc cả hai chức năng nghe và nhìn, những hình ảnh sẻ được trình chiếu trên các màn hình và âm thanh được phát trên hệ thống loa.
Phân loại Có nhiều loại TH khác nhau, căn cứ vào mức độ chủ động của TH chia thành: Bảng 1. Các loại truyền hình Thụ động Chủ động Tương tác Tuyến tính Tuyến tính Không tuyến tính Điều khiển bởi thiết bị Khán giả điều khiển được Khán giả có thể đi theo phát lịch phát các liên kết như trên WEB Xem, thay đổi kênh hoặc Có khả năng cải thiện sự Nội dung liên kết, tồn tại tắt máy thu hình lựa chọn cho khán giả tự lâu dài và có tính động. Công chúng truyền hình Công chúng theo tiếng Latin là: “Auditorium”; “Audure” là nghe, Auditor là người nghe, đó là cộng đồng người mà phương tiện truyền thông đại chúng thường hướng tới, chịu ảnh hưởng của truyền thông đại chúng. Theo từ điển tiếng Việt, công chúng là "đông đảo mọi người xem, hoặc chứng kiến việc gì, trong quan hệ với người diễn thuyết, tác giả, diễn viên.
Trong hoạt động báo chí, công chúng có thể hiểu là "quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà cơ quan báo chí hay sản phẩm báo chí (số báo, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình .) hướng vào để tác động (và trực tiếp hay gián tiếp chịu sự tác động của báo chí), nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh 18 c hưởng của mình. Theo tác giả Phạm Thị Thanh Tịnh, "công chúng” báo chí là những người được các sản phẩm truyền thông - tác động hoặc hướng vào để tác động. Đó là độc giả của báo in, thính giả của đài phát thanh, khán giả của đài truyền hình. Công chúng đó là một cộng đồng người với giới hạn nhỏ bé như làng, xã đến những cộng đồng to lớn trên phạm vi quốc tế" [31].
Công chúng là đối tượng tác động, đối tượng phản ảnh của cơ quan báo chí. Công chúng quyết định vai trò và sức mạnh tác động của báo chí, những nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng đối với các vấn đề báo chí tạo nên dư luận xã hội. Đó là căn cứ để đánh giá năng lực, hiệu quả tác động của báo chí và thẩm định khả năng của cơ quan báo chí. Có thể nói, công chúng là nguồn lực sáng tạo đối với báo chí.
Công chúng không chỉ đơn thuần là đối tượng chịu tác động của báo chí truyền thông mà họ là đối tượng phục vụ của truyền thông. Bởi vậy, báo chí không chỉ xem công chúng là người đọc hay xem báo chí nữa mà là người tiêu dùng - những khách hàng sử dụng sản phẩm báo chí một cách chủ động theo nhu cầu, sở thích, theo thời điểm thích hợp của từng người. Họ là những người tiếp nhận, tiêu thụ, phản hồi, là người đồng sáng tạo sản phẩm báo chí. Điều đó dẫn đến, mỗi đơn vị báo chí khi đưa thông tin, họ luôn cần sự tư duy sáng tạo để tạo nên sự hấp dẫn, tính thuyết phục của sản phẩm báo chí với công chúng.
Từ những phân tích trên có thể hiểu công chúng truyền hình là những người xem truyền hình, tiếp nhận thông tin và chịu ảnh hưởng thông tin mà truyền hình mang lại. Chương trình truyền hình Chương trình truyền hình, thuật ngữ tiếng Anh là “programme television”. Theo tác giả Trần Bảo Khánh thì chương trình truyền hình được hiểu “là kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận kỹ thuật – tài chính – nội dung” [16, tr 31] 19 c Theo tác giả Dương Xuân Sơn [27, tr.114], chương trình TH đề cập tới các vấn đề của đời sống xã hội, chuyển tải các thông tin từ chương trình này đến chương trình khác, từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ đối tượng công chúng. Chương trình TH là hình thức để thể hiện thực tế, hình thức vật chất hóa sự tồn tại của TH trong xã hội để truyền tải thông tin đến công chúng TH.
Chương trình TH là kết quả hoạt động, là sản phẩm tập thể của ekip, của cơ quan như; bộ phận lãnh đạo, bộ phận kỹ thuật, bộ phận nội dung của chương trình đã tạo nên thuật ngữ chương trình TH cả về mặt sáng tạo và sản xuất chương trình. Chương trình TH là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng TH. Đó là hình thức hóa vật chất sự tồn tại của TH trong đời sống xã hội để truyền tải thông tin đến với công chúng. Đó là sự bố trí, sắp xếp hợp lý các tin bài, bảng biểu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định.
Chương trình TH đề cập đến các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra mà nó thường truyền tải các thông tin từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ một đối tượng công chúng nhất định. Nội dung của chương trình TH trực tiếp làm sâu sắc tư tưởng, các chủ đề, dần dần tạo nên trong ý thức công chúng thế giới quan hiện đại. Tùy mỗi kênh mà số lượng chương trình khác nhau, có nội dung và cách thể hiện khác nhau, phục vụ cho nhu cầu và thị hiếu đối tượng công chúng của kênh mình. Như vậy, từ các phân tích trên có thể, chương trình TH là kết quả hoạt động của TH có sự kết hợp của nội dung, hình ảnh, lời bình, âm thanh.được sắp xếp một cách hợp lý về nội dung để truyền tải thông tin tới khán giả.
Trong đó bao gồm các quá trình sáng tạo chương trình từ nhiều công đoạn và tồn tại ở nhiều mức và quá trình tạo dựng kế hoạch, sắp đặt tác phẩm, chuyên mục khác nhau. Truyền hình tương tác Theo từ điển tiếng Việt: động từ "tương tác" là "sự tác động qua lại lẫn nhau" [22]. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, tương tác là tác động qua lại với nhau, quan hệ hai chiều giữa các sự việc hiện tượng. Mỗi hình thức tương tác cần sự cộng tác, các bên liên quan phải phối hợp với nhau để hoạt động hiệu quả.
Theo đó, tương tác 20 c là hoạt động, tác động qua lại lẫn nhau của hai hay nhiều chủ thể nhằm mang đến những kết quả mới. Theo quan điểm của Đài Truyền hình CFI - Cộng hòa Pháp, truyền hình tương tác là dạng chương trình cho phép người xem trước màn hình có thể trực tiếp tham gia, có thể làm thay đổi kịch bản của chương trình đang được phát sóng. Truyền hình tương tác được hiểu là sự tác động, giao tiếp qua lại hai hiểu đồng thời diễn ra sự trao đổi qua lại giữa chủ thể và khách thể truyền thông, giữa cơ quan báo chí với công chúng. Trong đó, các tương tác là bình đẳng nhưng cần kỹ năng định hướng thông tin, hướng dẫn dư luận xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Văn Dững: "Truyền hình tương tác là dạng thức truyền hình trong đó khán giả vừa với tư cách khán giả, vừa với tư cách tham gia thông qua việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật để được giao tiếp bằng nhiều hình thức như truyền hình, internet (email, webcam, blog.), điện thoại di động, điện thoại đường dài. ngay trong lúc chương trình đang phát sóng hay trước đó[3], [4]. Theo tác giả Mark Gawlinski [6], tương tác truyền hình nghĩa là có thể xem tất cả những gì khiến cho khán giả truyền hình, hoặc khán giả và người làm chương trình truyền hình hoặc dịch vụ tham gia vào cuộc đối thoại. Đối với các nhà công nghệ, truyền hình tương tác chính là sự hội tụ của truyền hình với mạng thông tin toàn cầu (Internet).
Điều này được phát triển theo hai hướng. Hướng thứ nhất, truy cập vào Internet thông qua truyền hình nhờ việc sử dụng một thiết bị giải mã, bộ điều khiển từ xa, bàn phím. Hướng thứ hai, việc truy cập vào truyền hình thông qua máy tính.