Chương 1: Lý luận chung về hoạt động tổ chức sản xuất sản phẩm truyền hình trên Internet Chương 2: Khảo sát thực trạng tổ chức sản xuất sản phẩm truyền hình trên Internet của Đài truyền hình Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động tô chức sản xuất sản phẩm truyền hình trên Internet của Đài truyền hình Việt Nam 16 CHUONG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE HOAT ĐỘNG TÔ CHỨC SAN XUẤT SAN PHAM TRUYEN HÌNH TREN INTERNET 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tai 1. Truyền hình và sản phẩm truyền hình Khái niệm truyền hình được định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt: Truyền hình anh, thường đồng thời có cả âm thanh đi xa bằng radio hoặc bằng đường day [26, tr. Theo giáo trình truyền hình của PGS.
TS Dương Xuân Sơn: Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng truyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc đi xa bằng sóng vô tuyến điện [20, tr. Thuật ngữ Truyền hình có nguồn gốc từ tiếng La tinh và tiếng Hy Lap, Theo tiếng Hy Lap, “tele” có nghĩa là ở xa còn “videre” là thay được, còn tiếng Latinh nghĩa là xem được từ xa. Ghép hai từ đó lại thành “ “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng anh là Television, tiếng Pháp là Television, v.
Như vậy, dù phát triển ở bất cứ đâu thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa là nhìn được Ở xa. Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn Truyền thông đại chúng nêu: Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình (Televison) bắt nguồn từ hai từ tele có nghĩa là ở xa và vision là thấy được, tức là thấy được ở xa [22, tr. Tóm lại, truyền hình hay còn được gọi là TV là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận tín hiệu sóng và tín hiệu qua đường cáp dé chuyển thành hình ảnh và âm thanh, và là một loại phương tiện dé truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm thanh kèm theo.
TS Tạ Ngọc Tan: Thông tin truyền hình tái hiện cuộc sống hiện thực trong trạng thái sống. Nghĩa là truyền hình có thé là một phạm vi, một bộ phận nguyên dạng những gì đang diễn ra ngoài đời nhưng nó được cho là rõ hơn, đẹp hơn. Người xem truyền hình có cảm giác như họ đang có mặt, trực tiếp chứng kiến hay đang tham gia vào sự kiện thực tế đó” [21, tr. Sản xuất truyền hình là một phân đoạn của nội dung và sản phẩm truyền hình là kết quả của một quá trình sản xuất của cả tập thé thông qua nhiều công đoạn khác nhau.
TỔ chức sản xuất sản phẩm truyền hình “Tổ chức: theo từ gốc tiếng Hy Lạp “organon” nghĩa là “hài hoà”, từ tổ chức nói lên một quan điểm rất tông quát “đó là cái dem lại ban chất thích hợp với sự sống”. Barnard trong cuốn Organization Theory (lý thuyết tô chức) thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cach có ý thức [6, tr. Tổ chức nội dung sản phẩm truyền hình: Theo Nguyễn Như Ý chủ biên, Đại từ điển Tiếng Việt (2013), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, Tổ chức là sắp đặt thành cơ quan nhiều bộ phận riêng biệt và có trật tự trong ngoài, trên dưới cho dé diều khiến [26, tr. Nội dung là ý nghĩa chứa đựng bên trong.
Sản phẩm truyền hình được làm ra từ hoạt động tô chức sản xuất truyền hình đưa đến phục vụ công chúng. Truyền hình là truyền hình ảnh và âm thanh bằng sóng vô tuyến. Theo tiến sỹ Hà Huy Phượng trong cuốn tô chức nội dung thiết kế trình bày báo in có đề cập đến “Tổ chức nội dung báo và tạp chí là việc lập kế hoạch nội dung từng số báo, trang báo, tạp chí sắp xuất bản, tô chức thực hiện dé đạt được mục tiêu và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng mà cơ quan báo chí đó hướng đến [19, tr. 18 Tổ chức là “một trạng thái có trật tự trong hoạt động phối hợp hoặc hoạt động liên hiệp, hoạt động tập thể của con người hoặc tô chức làm thành một chỉnh thé, một cấu trúc với những chức năng nhất định hoặc làm những gi cần thiết dé tiến hành một hoạt động nào đó nhăm đạt mục tiêu hiệu quả nhất”.
Theo cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lénin, hai mặt của nên sản xuất gồm có: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong đó, lực lượng sản xuất gồm người lao động và quan hệ sản xuất (con người giữ vai trò quyết định), còn quan hệ sản xuất giữa người với người trong quá trình sản xuất, đây là hai mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau. Như vậy, có thể hiểu tổ chức sản xuất là tập hợp nhóm người, các phương thức, cách thức tốt nhất, phù hợp nhất và sử dụng lao động (chân tay, trí óc) với các tư liệu sản xuất hiện có (phương tiện, máy móc, trang thiết bị) dé sản xuất ra một sản phẩm đạt hiệu quả cao nhất theo đúng các yêu cầu đã định ra. Thông qua những yếu tố trên, tác giả luận văn đã đưa ra quan niệm “T6 chức nội dung sản phẩm truyền hình là việc lập kế hoạch, sắp xếp, dự kiến các đề tài, chủ đề của các chương trình, kênh chương trình truyền hình sao cho hợp lý, dé theo doi”.
Sản xuất là hoạt động cơ bản nhất trong các hoạt động của con người, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Sản xuất là việc sử dụng sức lao động gồm trí lực và thê lực thông qua phương thức sản xuất tác động vào đối tượng dé biến đổi nó thành sản phẩm vật chất và tinh thần nhằm phục vụ nhu cầu con người. Sản xuất liên quan đến lao động, tức là dùng lao động dé sản xuất ra sản phẩm cho xã hội, “tạo ra của cải vật chất hoặc hoạt động tạo ra sản phẩm vật pham cho xã hội bằng cách dùng tư liệu tác động vào đối tượng lao động”. Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là việc sắp xếp, bố trí nội dung, hình ảnh, lời bình, kỹ xảo, v.
một cách hợp lý nhằm tạo ra các chương 19 trình truyền hình chất lượng cao dé đáp ứng nhu cau, sở thích của khán giả xem truyền hình. Truyền hình trên Internet và sản phẩm truyền hình trên Internet Truyền hình Internet hay còn gọi là truyền hình trực tuyến là dịch vụ mà các luồng đữ liệu được gửi thông tin qua mạng Internet (có thê bao gồm nhiều dữ liệu truyền dẫn). Hay còn nói cách khác, truyền hình Internet là một loại truyền hình phát sóng trực tuyến. Theo, Beth Hendricks - Truyền hình trên Internet lần đầu tiên được phát triển vào cuối những năm 1990, trở nên phô biến hơn với sự phát triển của băng thông rộng hay truyền đữ liệu tốc độ cao.
ABC World News là một trong những hãng đầu tiên cung cấp chương trình phát sóng qua Internet. Khi đữ liệu tăng lên, người tiêu dùng có thể xem nhiều chương trình trực tuyến hơn một cách rõ ràng và nhất quán [42]. Nói một cách đơn giản, truyền hình Internet là truyền hình có thể cho phép người dùng có hề truy cập băng các thiết bị hỗ trợ Internet như TV thông minh, điện thoại thông minh va máy tính bang, thay vì phải xem truyền hình qua màn hình TV. Như vậy có thể nói, truyền hình Internet có thể truy cập nội dung truyền hình bằng các thiết bị hỗ trợ Internet như TV thông minh, điện thoại thông minh.
Ngày nay, khái niệm truyền hình Internet gắn liền với tên tuổi của các công ty như SlingTV, Hulu, Apple TV, PlayStation Vue và những công ty khác. Michael Noll trong cuốn Internet Television vào năm 1945 truyền hình là truyền hình ảnh chuyền động, cùng với âm thanh, qua sóng phát sóng đến các gia đình dé xem trên máy thu hình. Thời gian đầu tiên truyền hình là tin tức, phim, kịch, thể thao và các chương trình tạp kỹ. Sau đó truyền hình ngày càng phát triển thể hiện ở khả năng phân phối nội dung qua cáp quang, băng video và máy thu hình.
Mặc dù, công nghệ phân phối ngày càng phát triển nhưng nội dung được tạo dựng gần như lại không thay đổi. Ngày nay, với sự 20 phát triển của Internet, công chúng có thói quen xem truyền hình thông qua Internet và các thiết bị di động. Truyền hình cũng dan dan thay đôi từ chỗ phát triển chuyên sâu về nội dung, chỉnh chu về hình anh, sang hướng phát triển các video ngắn. Những video nảy có tính tương tác, tạo ra một hình thức truyền hình tương tac mới (ITV).
Định nghĩa cua Internet TV rõ ràng phụ thuộc vào định nghĩa của Internet. Ở mức cơ sở hạ tầng thấp nhất, Internet là mạng đữ liệu chuyên mạch gói bao gồm các liên kết truyền dẫn và bộ định tuyến gói, liên kết các máy tính trên toàn cầu. Internet cũng có nghĩa là các giao thức được sử dụng đề chỉ định việc truyền và định tuyến các gói thông tin. Internet là trình duyệt, chang hạn như Microsoft® Ex- plorer® và Netscape® CommunicatorTM, được sử dụng dé truy cập và hiên thị thông tin thu được từ các trang Web trên máy tính cá nhân một cách thân thiện và dễ sử dụng.
Internet là khái niệm chung của ngôn ngữ đánh dấu siêu văn ban (html) được sử dụng dé cho phép dé dàng liên kết giữa các nguồn thông tin khác nhau cùng với khả năng hiển thị thân thiện. Và cuối cùng, Internet là giao diện của thông tin được truy cập và hiển thị bằng màu sắc và đồ họa từ các trang Web khác nhau. Các tính năng chính khác nhau của Internet như sau: giao diện (màu sắc/đồ họa), trình duyệt, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn ban, giao thức Internet dé chuyên mạch gói và mạng gói toàn cầu để truyền dữ liệu. Điều này có nghĩa là tất cả các định nghĩa của cả Internet và truyền hình đang phát triển.
Do đó, định nghĩa của truyền hình trên Internet cũng đang trong giai đoạn phát triển và chưa ro ràng. Truyền hình trên Internet TV là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Sản phẩm của truyền hình trên Internet là truyền hình thông thường thu được qua Internet. Thay vì xem các chương trình truyền hình được phát qua mạng hoặc qua cáp, các chương trình truyền hình được truy cập qua Internet và sau đó 21 được xem trong thời gian thực, sử dụng một công nghệ được gọi là truyền video.
Không chỉ truyền hình thông thường, mà cả phim hoạt hình và video ngắn, được gửi qua Internet với tính năng phát video trực tuyến.