Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn karate do cho học viên học viện an ninh nhân dân

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn karate do cho học viên học viện an ninh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

370
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quan điểm chỉ đạo của Bộ Công an về rèn luyện thể lực và huấn luyện Võ thuật với lực lượng Công an nhân dân

1.2. Các yếu tố chi phối hiệu quả và tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động Thể dục thể thao ngoại khoá. Đặc điểm môn võ Karate-do

1.3. Nguyên tắc cơ bản về xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do cho học viên Học viện An ninh nhân dân

1.4. Điều kiện thi tuyển vào Học viện An ninh nhân dân

1.5. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

2.3. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm

2.4. Phương pháp quan sát sư phạm

2.5. Phương pháp kiểm tra sư phạm

2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2.7. Phương pháp toán học thống kê

2.8. Tổ chức nghiên cứu

2.8.1. Địa điểm nghiên cứu

2.8.2. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. Thực trạng công tác Giáo dục thể chất và thể thao ngoại khóa của Học viện An ninh nhân dân

3.2. Thực trạng các yếu tố đảm bảo tới công tác Giáo dục thể chất và hoạt động Thể thao ngoại khóa của học viên Học viện An ninh nhân dân

3.3. Thực trạng phong trào tập luyện Thể dục thể thao ngoại khóa của học viên Học viện An ninh nhân dân

3.4. Thực trạng trình độ thể lực của học viên Học viện An ninh nhân dân

3.5. Thực trạng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do của học viên Học viện An ninh nhân dân

3.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của học viên Học viện An ninh nhân dân

3.7. Bàn luận về kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 1

3.8. Xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do cho học viên Học viện An ninh nhân dân

3.8.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do cho học viên Học viện An ninh nhân dân

3.8.2. Xây dựng chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do cho học viên Học viện An ninh nhân dân

3.8.3. Kiểm định mức độ phù hợp của chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do cho học viên Học viện An ninh nhân dân

3.9. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 2

3.10. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do đã xây dựng cho học viên Học viện An ninh nhân dân

3.10.1. Tổ chức thực nghiệm

3.10.2. Đánh giá hiệu quả của chương trình tập luyện ngoại khóa môn Karate-do đã xây dựng

3.11. Bàn luận kết quả nghiên cứu nhiệm vụ 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

A. Kiến nghị

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về chương trình tập luyện Karate Do cho học viên Học viện An ninh nhân dân

Chương trình tập luyện Karate-Do tại Học viện An ninh nhân dân được thiết kế nhằm nâng cao thể lực và kỹ năng tự vệ cho học viên. Karate-Do không chỉ là một môn võ thuật mà còn là một phương pháp rèn luyện tinh thần và thể chất. Chương trình này được xây dựng dựa trên các nguyên tắc giáo dục thể chất hiện đại, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của học viên.

1.1. Lợi ích của việc tập luyện Karate Do cho học viên

Tập luyện Karate-Do mang lại nhiều lợi ích cho học viên, bao gồm cải thiện sức khỏe, tăng cường sự tự tin và khả năng tự vệ. Ngoài ra, Karate-Do còn giúp phát triển tính kỷ luật và sự kiên nhẫn, những yếu tố quan trọng trong công việc và cuộc sống hàng ngày.

1.2. Đối tượng tham gia chương trình Karate Do

Chương trình Karate-Do tại Học viện An ninh nhân dân dành cho tất cả học viên, từ những người mới bắt đầu đến những người đã có kinh nghiệm. Đặc biệt, chương trình được thiết kế linh hoạt để phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng học viên.

II. Thách thức trong việc triển khai chương trình tập luyện Karate Do

Việc triển khai chương trình tập luyện Karate-Do gặp phải một số thách thức nhất định. Đầu tiên là sự thiếu hụt về cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết cho việc tập luyện. Thứ hai, việc thu hút học viên tham gia vào các buổi tập luyện cũng là một vấn đề cần được giải quyết. Cuối cùng, việc đảm bảo chất lượng giảng dạy từ các giáo viên Karate cũng là một yếu tố quan trọng.

2.1. Thiếu hụt cơ sở vật chất cho tập luyện

Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các buổi tập luyện Karate-Do. Nhiều học viện vẫn chưa đầu tư đầy đủ vào trang thiết bị, điều này ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của chương trình.

2.2. Khó khăn trong việc thu hút học viên tham gia

Một trong những thách thức lớn là làm thế nào để thu hút học viên tham gia vào chương trình Karate-Do. Cần có các chiến lược truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức về lợi ích của việc tập luyện Karate-Do.

III. Phương pháp xây dựng chương trình tập luyện Karate Do hiệu quả

Để xây dựng một chương trình tập luyện Karate-Do hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại. Điều này bao gồm việc kết hợp lý thuyết và thực hành, sử dụng các công nghệ hỗ trợ trong giảng dạy, và tạo ra môi trường học tập tích cực cho học viên.

3.1. Kết hợp lý thuyết và thực hành trong giảng dạy

Việc kết hợp lý thuyết và thực hành giúp học viên hiểu rõ hơn về các kỹ thuật Karate-Do. Các buổi học lý thuyết sẽ cung cấp kiến thức nền tảng, trong khi các buổi thực hành sẽ giúp học viên áp dụng kiến thức vào thực tế.

3.2. Sử dụng công nghệ hỗ trợ trong giảng dạy

Công nghệ có thể được sử dụng để nâng cao trải nghiệm học tập. Ví dụ, video hướng dẫn và ứng dụng di động có thể giúp học viên tự học và cải thiện kỹ năng của mình một cách hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chương trình Karate Do tại Học viện An ninh nhân dân

Chương trình Karate-Do không chỉ giúp học viên nâng cao thể lực mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để đối phó với các tình huống khẩn cấp. Nhiều học viên đã áp dụng những gì học được vào thực tế, từ việc tự vệ đến việc giải quyết các tình huống căng thẳng trong công việc.

4.1. Kết quả đạt được từ chương trình tập luyện

Nhiều học viên đã cho thấy sự tiến bộ rõ rệt về thể lực và kỹ năng tự vệ sau khi tham gia chương trình Karate-Do. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học viên đạt tiêu chuẩn thể lực tăng lên đáng kể.

4.2. Phản hồi từ học viên về chương trình

Học viên đã có những phản hồi tích cực về chương trình Karate-Do. Họ cảm thấy tự tin hơn và có khả năng tự bảo vệ bản thân tốt hơn sau khi tham gia các buổi tập luyện.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chương trình Karate Do

Chương trình tập luyện Karate-Do tại Học viện An ninh nhân dân đã chứng minh được giá trị của nó trong việc nâng cao thể lực và kỹ năng tự vệ cho học viên. Trong tương lai, chương trình cần được cải tiến và mở rộng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của học viên.

5.1. Định hướng phát triển chương trình trong tương lai

Chương trình sẽ tiếp tục được cải tiến dựa trên phản hồi từ học viên và các chuyên gia. Mục tiêu là tạo ra một môi trường học tập tốt nhất cho học viên.

5.2. Tăng cường hợp tác với các tổ chức bên ngoài

Hợp tác với các tổ chức và câu lạc bộ Karate bên ngoài sẽ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và tạo cơ hội cho học viên tham gia các giải đấu.

14/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về Giáo dục thể chất và Thể dục thể thao trường học Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều 41 quy định: “…Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động TDTT quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [89]. Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của nhân dân. Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, nhằm mục tiêu làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết HS, SV.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển TDTT nước nhà, Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị số 133/TTg ngày 3 tháng 3 năm 1995 về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành thể dục - thể thao, trong đó nêu rõ: [118]. “…Bộ GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy thể dục – thể thao nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho HS, SV ở các cấp học; có quy chế bắt buộc các trường, nhất là các trường Đại học phải có sân bãi, nhà tập thể dục - thể thao; có định biên hợp lý và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giảng viên thể dục – thể thao, đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp bậc học. Với tinh thần chỉ thị trên một lần nữa tại Đại hội Đảng toàn quốc khoá VIII năm 1996 nhấn mạnh: “Tạo chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả GDTC trong trường học”. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ cũng như các mục tiêu đặt ra đối với GDTC, trong Quyết định số 57/2002/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành TDTT đến năm 2010 [110].

Xác định được vị trí 7 quan trọng của TDTT nói chung và GDTC trong trường học nói riêng Đảng và Nhà nước ta đề ra hai mục tiêu đó là: mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. - Mục tiêu trước mắt là: “Góp phần trực tiếp nâng cao sức khoẻ cho con người để phục vụ sản xuất, chiến đấu, xây dựng nếp sống mới và công tác”. Mục tiêu này nó còn có ý nghĩa thúc đẩy xã hội, làm cho cả hệ thống chính trị, kinh tế quốc phòng của đất nước được củng cố và phát triển. - Mục tiêu lâu dài là chiến lược: “Xúc tiến quá trình cải tạo nòi giống Việt Nam.

Nhờ TDTT, mà những yếu tố xã hội rất quan trọng như: Sức khoẻ cường tráng, chiều cao, cân nặng, khả năng chống bệnh tật, tuổi thọ được duy trì và phát triển”. Do đó, Nghị quyết về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân ghi rõ: “TDTT góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, làm cho nòi giống ngày càng tốt đẹp hơn”. Tại Chỉ thị 17 CT/TW Ban Bí thư ngày 23/10/2002 “Công tác TDTT phải góp phần tích cực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Quốc phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại của đất nước, trước hết là góp phần nâng cao sức khoẻ, rèn luyện ý chí, giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống và nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, nâng cao lòng tự hào dân tộc và đẩy lùi tệ nạn xã hội ở từng địa phương. Theo Luật Thể dục, Thể thao được ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường bao gồm 2 nội dung chính: “Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”, đây còn được gọi là Thể dục nội khóa; “Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao”, còn được gọi là thể dục, thể thao ngoại khóa.

[92] Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường”: “GDTC trong nhà 8 trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho HS, SV các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”. [26] Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động thể thao trường học. Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của HS, SV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, SV là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS, SV tham gia các hoạt động thể thao ngoại khóa”. Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong đó có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC.

Một trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy và học TD chính khóa, các hoạt động thể thao ngoại khóa cho HS, SV xây dựng chương trình GDTC hợp lý.” và “Tận dụng các công trình TDTT tại các cơ sở để phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” [113]. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 01 tháng 12 năm 2011 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020: “Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường CSVC, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020”[7]; Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao 9 đến năm 2020 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ) đã khẳng định: “Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, SV. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động TDTT quần chúng: Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, vận động và thu hút đông đảo nhân dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao…; Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thể dục, thể thao” [8]. Tóm lại, các văn bản, chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thể hiện tư tưởng nhất quán: Coi trọng và đề cao vai trò của TDTT trong xã hội, trong đó có TDTT trong trường học các cấp; đồng thời, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách tại nước ta trong giai đoạn hiện nay.

GDTC là một môn học thuộc chương trình giáo dục quốc dân, là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước nhằm đào tạo cho đất nước một thế hệ phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, đổi mới công tác GDTC và TDTT trong trường học các cấp cũng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Quan điểm của Bộ Công an về rèn luyện thể lực và huấn luyện võ thuật với lực lượng Công an nhân dân “Công an nhân dân Việt Nam là Công an của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Trong các giai đoạn cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ kính yêu, được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, lực lượng Công an nhân dân ngày càng trưởng thành về mọi mặt, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” điều này đã được nguyên Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định trong bài viết đăng trên báo Nhân dân điện tử 10 ngày 18/08/2014 nhân kỷ niệm 69 năm ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân (19/8/1945 – 19/8/2014) [60].

Điều này một lần nữa được Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm khẳng định trong bài viết: “Xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh toàn diện, xứng đáng là lực lượng nòng cốt giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” đăng trên trang điện tử của Tạp chí cộng sản ngày 25/10/2017. Trong đó nêu rõ “Công an nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Chương trình tập luyện Karate-Do cho học viên Học viện An ninh nhân dân là một tài liệu quan trọng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp và lợi ích của việc tập luyện Karate-Do trong môi trường giáo dục. Tài liệu nhấn mạnh sự phát triển thể chất, tinh thần và kỹ năng tự vệ cho học viên, đồng thời khuyến khích sự rèn luyện kỷ luật và tinh thần đồng đội. Những lợi ích này không chỉ giúp học viên nâng cao sức khỏe mà còn trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết trong công việc và cuộc sống.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục thể chất và thể thao, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp phát triển công tác giáo dục thể chất cho học sinh các trường thpt trên địa bàn tp thanh hóa tỉnh thanh hóa, nơi cung cấp các giải pháp phát triển giáo dục thể chất cho học sinh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn a study of the physical education and sporting program implementation at thai nguyen university viet nam situations and solutions sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình hình và giải pháp phát triển thể dục thể thao tại các trường đại học. Cuối cùng, tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nâng cao thể lực của sinh viên trường đại học luật hà nội thông qua hoạt động giáo dục thể chất cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn khám phá thêm về các phương pháp nâng cao thể lực cho sinh viên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục thể chất và thể thao trong môi trường học đường.