CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ MIỀN TÂY NAM BỘ VÀ TÌM HIỂU MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH MIỀN TÂY TIÊU BIỂU 1. Khái quát về miền Tây Nam Bộ 1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Đồng bằng sông Cửu Long hay còn gọi là vùng Tây Nam Bộ là một bộ phận của châu thổ sông Mekong có diện tích 40, 6 nghìn km².
Cùng với Đông Nam Bộ là hai vùng đất thuộc Nam Bộ của nước ta, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền bao gồm:điểm cực Tây ở phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang; cực Đông ở xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre; cực Bắc ở xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; cực Nam ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Ngoài ra, còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như Đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, Hòn Khoai, lưu vực sông Cửu Long. Về phía tây, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bởi sông Châu Đốc và kênh Vĩnh Tế - một dòng kênh nhân tạo chảy dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, nhận nước sông Hậu Giang qua sông Châu Đốc tại Thành phố Châu Đốc đổ nước ra Vịnh Thái Lan, giới hạn một vùng đất thấp ngập nước theo mùa gọi là tứ giác Long Xuyên.
Ở khu vực giữa hai dòng sông Hậu và sông Tiền, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn đầu nguồn bởi các dòng kênh nối ngang tại 2 huyện thị đầu nguồn Tân Châu và An Phú của tỉnh An Giang như kênh Vĩnh An… Về phía đông bắc và đông, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bằng hàng loạt các dòng sông kênh rạch liên thông với nhau, chảy dọc theo biên giới Việt Nam và Campuchia(giới hạn vùng đất trũng khác ngập nước theo mùa là vùng Đồng Tháp Mười), và đều là phân lưu của sông Mekong: hoặc trực tiếp của dòng chính sông Tiền Giang, hay nhận nước gián tiếp qua một phân lưu chính của Mekong là Preak Banam đổ ra biển Đông qua sông Vàm Cỏ Tây (sông Vàm Cỏ) và các cửa của sông 16 Cửu Long. Giới hạn phía đông bắc và đông của Đồng bằng sông Cửu Long là các dòng sông kênh rạch sau: sông Sở Thượng (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Banam), sông Sở Hạ (chảy trên biên giới Việt Nam và Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak phân lưu của Preak Banam), rạch Cái Cỏ (chảy trên biên giới Việt Nam và Campuchia, là ranh giới phía bắc của Đồng Tháp Mười, nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak một thượng lưu của sông Sở Hạ và rạch Long Khốt), rạch Long Khốt (nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak và Cái Cỏ, thượng nguồn của sông Vàm Cỏ Tây), sông Vàm Cỏ Tây (nhận nước sông Mekong qua rạch Long Khốt và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), sông Vàm Cỏ (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ Tây và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), và cuối cùng là sông Soài Rạp (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ). Các sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ, Soài Rạp mặc dù thuộc hệ thống sông Sài Gòn và Đồng Nai, là hệ thống sông thuộc địa bàn Miền Đông Nam Bộ, nhưng chúng là những dòng sông cuối cùng nhận nước từ sông Mekong về phía đông, đồng thời một trong số chúng (sông Soài Rạp) là ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh phía đông Đồng bằng sông Cửu Long là Long An và Tiền Giang với tỉnh thành phía tây của Miền Đông Nam Bộ là Thành phố Hồ Chí Minh, nên lưu vực các sông rạch này (chính là địa bàn tỉnh Long An) cũng là địa bàn ranh giới tận cùng phía đông của Đồng bằng sông Cửu Long với miền Đông Nam bộ[1] Đồng bằng sông Cửu Long gồm ba tiểu vùng. Vùng cao ở phía tây gồm các tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long là Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, phần phía tây các tỉnh Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và phần phía đông Kiên Giang.
Đây là vùng thường bị ngập vào mùa mưa bởi nước sông Cửu Long dâng lên. Vùng thấp ở duyên hải phía đông gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, phần phía đông Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và phần ven biển Kiên Giang. Đây là vùng thường bị mặn xâm nhập vào mùa khô. Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng 17 giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát (đất bằng) dọc theo bờ biển.
Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, tây nam sông Hậu (khu vực ngã ba Hậu Giang, Bạc Liêu và Cà Mau) ở bán đảo Cà Mau. Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử hình thành nên miền Tây Nam bộ nói riêng hay Nam Bộ nói chung trước kia là vốn dĩ là vùng lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp và có chung quá trình hình thành. Trong suốt thời gian từ đầu công nguyên đến giữa thế kỷ thứ XVII, Nam bộ trên danh nghĩa lần lượt nằm dưới quyền cai trị của vương quốc Phù Nam và sau này là quốc gia Chân Lạp - đế quốc Kh’mer cổ. Và phải đến giữa thế kỷ XVII, theo bước chân khai hoang của người Việt dưới chính quyền của các chúa Nguyễn, vùng đất này mới dần dần từng bước được sáp nhập vào lãnh thổ của nước ta.
Thời chúa Nguyễn và Tây Sơn Năm 1658, Chúa Nguyễn Phúc Tần giúp hoàng thân Chân Lạp là Batom Reachea lên ngôi và đã ký hiệp ước với triều đình Chân Lạp cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa. Năm 1679 quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Long môn, Trần Thượng Xuyên, Trần An không chịu làm tôi nhà Thanh đã đem 3000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin làm dân Đại Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tần vì muốn khai khẩn đất Chân Lạp nên cho vào ở đất Đông Phố. Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh đi làm kinh lược đất Chân Lạp.
Ông chia đất Đông Phố của những người Tàu ra làm dinh, làm huyện, rồi sai quan vào cai trị. Chúa Nguyễn lại tiếp tục chiêu mộ những người lưu dân từ 18 Quảng Bình trở vào để lập ra những thôn xã và khai khẩn ruộng đất, người Việt và Tàu ở đây đều thuộc về sổ bộ của nước Việt chúa Nguyễn. Mạc Cửu một người gốc Quảng Đông vì nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh nên đã cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp. Năm 1680, Mạc Cửu đã mở rộng đất đai của mình gồm những vùng đất: Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc khi đó đang thuộc Chân Lạp những nơi mà triều đình Chân Lạp không kiểm soát được.
Năm 1708 để tránh áp lực thường xuyên của quân Xiêm La sang cướp phá, Mạc Cửu đã dâng hiến đất khai phá cho chúa Nguyễn Phúc Chu, chúa Nguyễn đổi tên thành Trấn Hà Tiên và phong Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản vùng đất Hà Tiên. Từ năm 1735 - 1739 Mạc Thiên Tứ là con trai của Mạc Cửu mở rộng đất đai thuộc kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang và Cần Thơ, đưa thêm những vùng đất mới này vào Trấn Hà Tiên thuộc đàng trong. Năm 1753, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên (Ang Tong) sai sứ sang thông sứ với chúa Trịnh ở đàng Ngoài cùng lập mưu đánh chúa Nguyễn, do đó chúa Nguyễn Phúc Khóat đã cử Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên. Năm 1755, Nặc Nguyên thua bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên cầu cứu Mạc Thiên Tứ, xin dâng hai phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công) cho chúa Nguyễn để cầu hòa.
Năm 1757, Nặc Nguyên mất, chú họ Nặc Nhuận dâng hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc (Sóc Trăng) xin chúa Nguyễn Phúc Khóat phong làm vua Chân Lạp. Sau đó Nặc Nhuận bị con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất Trương Phúc Du thừa kế sang đánh Nặc Hinh. Chúa Nguyễn cho lập Nặc Tôn (Outey II) là con Nặc Nhuận 19 đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên làm vua Chân Lạp.
Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu là Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn riêng Mạc Thiên Tứ, ông đem những đất ấy dâng lại cho chúa Nguyễn và được cai quản 5 vùng đất này. Sau khi Pháp thành lập ra Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot. Thời nhà Nguyễn độc lập Vào thời triều Nguyễn thành lập vào năm 1802, vua Gia Long tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn, đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lí trên quy mô cả nước.
Vua Minh Mạng vào năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên được gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay còn được gọi là Lục tỉnh. Năm 1836, vua đổi thành Gia Định (là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông và Vĩnh Long (là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (là tỉnh thành Châu Đốc), Hà Tiên (là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây. Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì đã có 4 tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) bao gồm: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ngoài ra còn có một phần đất đai của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ cũng nằm trong khu vực miền Tây Nam Bộ, tương đương với một phần các tỉnh Long An và Tiền Giang (vùng đất Gò Công) ngày nay.
Thời kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ Năm 1858, Pháp tấn công Nam Bộ rồi lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kì, triều Nguyễn điều động quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp. Khi kháng chiến thất bại, triều đình nhà Nguyễn đã ký các hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (vào năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (vào năm 1874). Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, Pháp thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia theo luật của nước Pháp.