Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Để đi đến một khái niệm khoa học, đầy đủ, chính xác về chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, trước hết, cần thiết phải làm rõ một khái niệm gần kề, có liên quan như: “chứng minh”, “chứng minh tội phạm” , “ vụ án”, “điều tra vụ án”. “Chứng minh” - theo Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa năm 2013, là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng, bằng sự việc hoặc lý lẽ” [14, tr.
“Chứng minh tội phạm” - Theo Từ điển luật học, Nxb Tư Pháp năm 2006, là “thu thập kiểm tra, đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [7, tr. Chứng minh nêu trên được hiểu theo nghĩa hẹp trong TTHS. Theo GS, TS Võ Khánh Vinh, trong phần bình luận Điều 65 BLTTHS năm 2003 có đưa ra khái niệm về chứng minh là “quá trình nhận thức về vụ án hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện” [25, tr. 131] Các khái niệm “chứng minh” nêu trên có những điểm giống nhau là: - Chứng minh là hoạt động suy luận logic thông qua quá trình nhận thức về một sự vật, một sự việc.
- Trong HĐCM, chủ thể chứng minh sử dụng lý lẽ hoặc tài liệu, thông tin đã được kiểm chứng, xác nhận. 8 - Mục đích của HĐCM nhằm kết luận chân lý khách quan về một sự vật, một hiện tượng. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về chứng minh như sau: “Chứng minh là hoạt động của con người để nhận thức sự thật khách quan về một sự vật, hiện tượng nào đó thông qua các thông tin, tài liệu được thu thập, kiểm tra, đánh giá tính chân lý”. Theo Từ điển luật học, Nxb Tư Pháp năm 2006 – Vụ án là “một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [7, tr.
Chứng minh trong tố tụng hình sự là việc làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng này với những sự vật, hiện tượng khác. Những mối liên hệ đó là khách quan và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Chính vì vậy, trong hoạt động tố tụng hình sự xác định mục đích hướng tới của việc chứng minh này là nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân năm 2018: “Điều tra vụ án là một giai đoạn, trong đó Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm rõ đối tượng chứng minh để ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra và ra các quyết định khác theo quy định của pháp luật”.
Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin được cơ quan có thẩm quyền điều tra theo Điều 290, Chương XXI BLHS năm 2015 và sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi chung là BLHS năm 2015), cụ thể như sau: “1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử, thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 9 a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; d) Lừa đảo thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản; đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Có tính chất chuyên nghiệp; d) Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ; đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000 đồng đến dưới 200.000 đồng; e) Gây thiệt hại từ 50.000 đồng đến dưới 300.000 đồng; g) Tái phạm nguy hiểm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; b) Gây thiệt hại từ 300.000 đồng đến dưới 500.000 đồng’ c) Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000 đồng trở lên; 10 b) Gây thiệt hại 500.000 đồng trở lên; c) Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” So với điều khoản được quy định tại Điều 226b BLHS năm 1999 và sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi chung là BLHS năm 1999), quy định về tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Điều 290 BLHS sự năm 2015 có một số điểm khác biệt, quy định chi tiết, rõ ràng hơn. Cụ thể: - BLHS năm 2015 đã quy định rất rõ rằng nếu người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 (tội trộm cắp tài sản) và Điều 174 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Trước khi có Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT- BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC, ngày 10/9/2012 của Bộ Công an-Bộ Quốc phòng-Bộ Tư pháp-Bộ Thông tin và Truyền thông-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông (nay gọi ngắn gọn là Thông tư liên tịch số 10/2012) thì việc định tội danh đối với tội phạm này còn gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí là định tội danh sai đối với rất nhiều hành vi thuộc tội phạm này vì có nhiều nét giống với các hành vi của tội trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Các nhà làm luật đã quy định các hành vi thuộc một trong các trường hợp quy định tại tội trộm cắp tài sản hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì không thuộc tội phạm này. - BLHS năm 2015 đã khắc phục và bổ sung được những thiếu sót của BLHS năm 1999 về tội phạm này. Cụ thể, đã tách hành vi làm giả thẻ ngân hàng từ điểm a và bổ sung các hành vi: tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả vào điểm b khoản 1 Điều 290 để đảm bảo việc xử lý, truy tố, xét xử người phạm tội 11 có các hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả để chiếm đoạt tài sản của người khác. Bổ sung thêm các hành vi: lừa đảo trong thanh toán điện tử, kinh doanh đa cấp nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân vào điểm c khoản 1 Điều 290.
Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng. Để kinh doanh theo phương thức đa cấp, cần phải thành lập một doanh nghiệp có đăng ký ngành nghề kinh doanh theo phương thức đa cấp. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp là doanh nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh bán lẻ theo phương thức đa cấp. Năm 2004, pháp luật Việt Nam chính thức coi bán hàng đa cấp là kinh doanh hợp pháp và quy định trong Luật cạnh tranh.
Lừa đảo trong kinh doanh đa cấp qua mạng là hành vi người phạm tội xây dựng một website thương mại điện tử và giới thiệu tới khách hàng của mình là sản giao dịch thương mại điện tử đã được nhà nước cấp phép. Thay thế hành vi lừa đảo trong huy động vốn tín dụng thành lừa đảo trong huy động vốn, và mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng thành giao dịch chứng khoán qua mạng. Các nhà làm luật đã dự trù và xác định các hành vi tương tự các hành vi quy định tại Điều 226b không quy định là tội phạm thì nay đã được bổ sung và chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, tránh bỏ lọt tội phạm và tránh gây vướng mắc cho cơ quan tiến hành tố tụng khi xử lý các hành vi này. BLHS năm 2015 đã được bổ sung các hành vi Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
Đây là một điểm mới được bổ sung rất kịp thời trong bối cảnh tội phạm trong lĩnh vực viễn thông đang bùng nổ do nước ta có dân số sử dụng điện thoại di động, cố định và các dịch vụ viễn thông rất lớn. - Về hình phạt. Điều 290 BLHS năm 2015 đã có nhiều bước tiến lớn về hình phạt.