Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nông nghiệp là ngành kinh tế trọng yếu tại Việt Nam, đóng góp gần 20% GDP quốc gia và thu hút khoảng 50% lực lượng lao động xã hội. Trước yêu cầu phát triển bền vững và hiện đại hóa nông nghiệp trong bối cảnh kinh tế thị trường hội nhập, năng lực quản lý và điều hành của đội ngũ cán bộ, chủ các cơ sở sản xuất đóng vai trò quyết định. Tại tỉnh Thái Nguyên, nghề nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu bước đầu cho thấy tiềm năng phát triển nhờ tận dụng tốt phế phụ phẩm nông lâm nghiệp, nguồn lao động dồi dào và chi phí đầu tư ban đầu thấp. Tuy nhiên, phần lớn các mô hình sản xuất nấm trên địa bàn vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, phân tán, đồng thời chưa có các nghiên cứu mang tính hệ thống về chức năng, nhiệm vụ và phương thức điều hành của người quản lý cơ sở.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Lương Văn Thiệu đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Phát triển nông thôn với đề tài: "Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của chủ cơ sở sản xuất nấm tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo các nhóm nhiệm vụ:

  1. Về chuyên môn:
    • Làm sáng tỏ các nội dung lý luận và thực tiễn liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của chủ cơ sở sản xuất nấm.
    • Nắm bắt quá trình hình thành, phát triển và mô hình tổ chức của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy (thuộc khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên).
    • Đánh giá những mặt tích cực, hạn chế trong quá trình hoạt động của cơ sở và xác định nguyên nhân.
    • Trực tiếp tham gia thực hành các khâu kỹ thuật sản xuất các loại nấm ăn và nấm dược liệu tại cơ sở.
    • Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và đề xuất một số giải pháp phát triển cơ sở trên địa bàn xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên.
  2. Về thái độ: Xây dựng mối quan hệ làm việc hài hòa với chủ cơ sở và nhân công; chấp hành nghiêm túc nội quy, chủ động hỗ trợ công việc sản xuất hàng ngày.
  3. Về kỹ năng: Rèn luyện tác phong làm việc khoa học, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng chịu áp lực và thuần thục các thao tác kỹ thuật nghề nấm.
  • Đối tượng nghiên cứu: Chức năng, nhiệm vụ quản lý của chủ cơ sở và hoạt động sản xuất kinh doanh nấm ăn, nấm dược liệu.
  • Phạm vi không gian: Cơ sở sản xuất nấm của anh Phạm Bá Duy (xóm 10, xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên, đặt tại khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên).
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập và thu thập số liệu diễn ra từ ngày 20/01/2017 đến ngày 30/05/2017; số liệu thống kê kinh tế - xã hội sử dụng mốc thời gian năm 2016 - 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên các khái niệm và cơ sở lý luận về kinh tế nông nghiệp nông thôn:

  • Cơ sở sản xuất và cơ sở sản xuất trồng nấm: Là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa nông nghiệp dựa trên tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng độc lập; vận hành theo cơ chế thị trường và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để tạo ra nông sản hàng hóa.
  • Cơ sở kinh doanh nông nghiệp và hộ sản xuất: Đơn vị kinh tế tự chủ, sử dụng lao động gia đình kết hợp thuê ngoài nhằm khai thác các yếu tố sản xuất để cung ứng sản phẩm, dịch vụ.
  • Tổ chức lao động trong cơ sở sản xuất: Căn cứ vào phương hướng, quy mô sản xuất, trình độ trang bị máy móc thiết bị và năng lực quản lý của chủ cơ sở để phân công lao động phù hợp (quy mô 1 cấp quản lý, trực tiếp điều hành).
  • Các nhóm nhân tố ảnh hưởng: Nhóm yếu tố bên ngoài (chính sách tín dụng, chính sách đất đai, chính sách lao động, thị trường tiêu thụ) và nhóm yếu tố bên trong (trình độ học vấn, sự nhạy bén, kinh nghiệm thực tiễn của chủ cơ sở).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách được trích dẫn gồm:

  • Nghị định số 51/1999/NĐ-CP hướng dẫn Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi);
  • Nghị định số 30/1998/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
  • Nghị định số 85/1999/NĐ-CP về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân;
  • Nghị định số 132/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
  • Quyết định số 439/QĐ-TTg ngày 16/04/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục sản phẩm quốc gia (bao gồm nấm ăn và nấm dược liệu);
  • Quyết định số 2441/QĐ-TTg ngày 31/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020;
  • Quyết định số 2690/QĐ-BNN-KHCN ngày 12/11/2013 của Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt Đề án khung phát triển sản phẩm nấm ăn và nấm dược liệu;
  • Thông tư số 51/TT-BNN&PTNT ngày 27/12/2014 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về an toàn thực phẩm.

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Tác giả kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và hạch toán kinh tế ứng dụng:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập tài liệu, số liệu thống kê từ UBND xã Quyết Thắng, Hạt Kiểm lâm, các báo cáo ngành nông nghiệp và tài liệu khoa học chuyên ngành.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
    • Phỏng vấn trực tiếp: Trao đổi với chủ cơ sở Phạm Bá Duy về lịch sử hình thành, nguồn vốn, quy trình quản lý và thị trường tiêu thụ.
    • Tiếp cận có sự tham gia (PRA) và quan sát thực địa: Trực tiếp tham gia vào các khâu xử lý nguyên liệu, đóng bịch, khử trùng, cấy giống, ươm sợi, chăm sóc, thu hái và sơ chế nấm tại xưởng.
    • Thảo luận nhóm: Bàn bạc với chủ cơ sở về các khó khăn trong mùa vụ, dịch bệnh, lao động và giải pháp khắc phục.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ tiêu: Giá trị sản xuất ($GO = \sum Q_i \times P_i$), Chi phí trung gian ($IC = \sum C_{ij}$), Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$), cùng các tỷ suất $GO/IC$, $VA/IC$, $GO/LĐ$, $VA/LĐ$.
    • Phương pháp trích khấu hao tài sản cố định theo đường thẳng.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc nâng cao năng lực quản lý cơ sở sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh hiện đại hóa; xác định mục tiêu nghiên cứu cụ thể về chuyên môn, thái độ và kỹ năng; giới thiệu nội dung, phương pháp nghiên cứu và khung thời gian thực tập từ 20/01/2017 đến 30/05/2017 tại cơ sở nấm Phạm Bá Duy.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

  • Cơ sở lý luận: Tổng hợp các khái niệm về cơ sở sản xuất, cơ sở trồng nấm, hộ kinh tế và tổ chức lao động; phân tích tác động của hệ thống chính sách Nhà nước (đất đai, vốn vay, lao động) và năng lực cá nhân của chủ cơ sở.
  • Cơ sở thực tiễn:
    • Thế giới: Sản lượng nấm toàn cầu đạt khoảng 25 triệu tấn/năm (tốc độ tăng trưởng 7-10%/năm); Trung Quốc dẫn đầu thế giới (năm 2010 đạt 20,2 triệu tấn, trị giá khoảng 300 tỷ NDT); Hàn Quốc đạt giá trị sản xuất nấm gần 8 tỷ USD (2008); thị trường tiêu thụ lớn nhất là Đức, Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản.
    • Việt Nam: Nuôi trồng khoảng 16 loại nấm, sản lượng bình quân 250.000 tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu chính ngạch 25 - 30 triệu USD; phân vùng sản xuất rõ rệt (phía Nam mạnh về nấm rơm, mộc nhĩ; phía Bắc tập trung nấm mỡ, nấm sò, nấm hương, linh chi).
    • Thái Nguyên: Nghề nấm bắt đầu phát triển tại Đại Từ, Phú Lương, Sông Công, TP. Thái Nguyên; tuy nhiên còn nhỏ lẻ, giá thành dao động 30.000 - 70.000 đồng/kg.
    • Mô hình tham khảo: Trang trại nấm 3.000 m2 của anh Nguyễn Trung Kiên tại xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (đạt doanh thu gần 1 tỷ đồng/năm, giải quyết việc làm cho 20 lao động với thu nhập 2,5 - 3 triệu đồng/tháng).

Phần 3: Kết quả thực tập

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu:

    • Xã Quyết Thắng có diện tích tự nhiên 1.155,52 ha (đất nông nghiệp 656,16 ha; phi nông nghiệp 485,37 ha; chưa sử dụng 13,99 ha); dân số năm 2016 đạt 14.414 người, mật độ 1.115 người/km2.
    • Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22 - 23°C, lượng mưa trung bình 2.007 mm/năm (tập trung 85% vào mùa mưa), độ ẩm trung bình 82%.
    • Kinh tế địa phương: Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 15 tỷ đồng (2016); trồng trọt có 108 ha chè (sản lượng 1.295 tấn/năm), lúa đạt 1.839 tấn, rau các loại 710 tấn; chăn nuôi có đàn lợn 3.000 con, gia cầm 100.000 con.
  • Quá trình phát triển của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy:

    • Thành lập ngày 31/7/2009 theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 17A80016820 (đăng ký thay đổi lần 1 ngày 04/8/2014) do UBND TP. Thái Nguyên cấp; vốn điều lệ 630 triệu đồng, tổng nguồn vốn 1 tỷ đồng (lãi suất vay ngân hàng 9%/năm).
    • Năm 2014, thành lập Hiệp hội nấm Linh Chi Việt tại khuôn viên Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên; đến năm 2016 chuyển đổi thành HTX Quyết Thắng với 7 thành viên, quy mô nhà xưởng gần 3.000 m2 đất thuê.
    • Sản phẩm chính: Bịch nấm thành phẩm và nấm thương phẩm (Nấm Linh chi đỏ, Nấm Sò, Nấm Mộc nhĩ đen). Cơ sở tạo việc làm thường xuyên cho 4 lao động và nhiều sinh viên làm thêm.
  • Nội dung thực hiện và kết quả chuyên môn:

    • Hệ thống hóa chức năng, nhiệm vụ quản lý của chủ cơ sở: Gồm 3 chức năng chính (Hoạch định; Tổ chức phối hợp và điều khiển; Điều chỉnh và thúc đẩy) và 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm (Lập chiến lược; Quản lý nguồn vốn tự có/vốn vay/vốn cổ đông; Quản lý và điều phối nhân lực; Giám sát thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ; Hạch toán kinh tế).
    • Mô tả quy trình kỹ thuật sản xuất 3 loại nấm: Khóa luận ghi nhận chi tiết quy trình từng bước từ xử lý nguyên liệu mùn cưa, đóng bịch, khử trùng, cấy giống, nuôi sợi, rạch bịch, tưới phun sương đến thu hái, sơ chế (nấm tươi, phơi/sấy khô ở 40 - 50°C, nấm muối).

Phần 4: Kết luận và đề xuất giải pháp

Tổng kết các nội dung đã đạt được trong đợt thực tập; đánh giá sự phù hợp của mô hình quản trị cơ sở quy mô hộ/hợp tác xã; đề xuất các nhóm giải pháp về vốn, cải tiến kỹ thuật sấy/bảo quản, đào tạo lao động và mở rộng kênh tiêu thụ sang các tỉnh lân cận (Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang).

Kết quả và đóng góp thực tiễn

Các kết quả kỹ thuật và số liệu ghi nhận tại cơ sở

Khóa luận đã tổng hợp cụ thể công thức phối trộn nguyên liệu và các chỉ số kỹ thuật áp dụng trực tiếp tại xưởng sản xuất:

Loại nấm Lượng mùn cưa cơ bản Phụ gia và tỷ lệ dinh dưỡng phối trộn Quy cách bịch và thời gian ươm sợi Điều kiện chăm sóc & thu hoạch
Nấm Linh chi 350 kg mùn cưa 1,5% bột nhẹ; 7% cám ngô; 7% cám gạo; nước vôi pH 13 - 14 Ủ 2 đợt (7-8 ngày/đợt); nhiệt độ đống ủ 45 - 50°C; độ ẩm 60 - 65% Ươm trên giàn sắt/gỗ; tháo cổ nút, chăm sóc độ ẩm cao, thu hái nấm dược liệu
Nấm Sò 450 kg mùn cưa 20% cám ngô/cám gạo; nước vôi tôi pH 12 (2 kg vôi/100 lít nước) Bịch nilon 30 x 45 cm, nặng 2,4 - 2,7 kg; cấy 16 - 20 bịch/kg giống; ươm 20 - 25 ngày Rạch 6 - 8 đường (dài 5-6 cm); tưới sương 4 - 6 lần/ngày; thu hái 3 - 4 đợt trong 30 - 45 ngày
Nấm Mộc nhĩ 450 kg mùn cưa (bồ đề, cao su) 1% bột nhẹ; 0,1 kg $MgSO_4$; 2% thỏi nghiền cám (hoặc 2-3% cám gạo) Túi PP 19 x 38 cm, nặng 1,3 - 1,4 kg ướt; hấp 95-100°C (10-12h thủ công) hoặc 14-16h lò hơi; ươm 22 - 28 ngày Treo dây 7 - 10 bịch/dây; rạch 12 - 16 vết (sâu 1-2 mm); tưới 4 - 5 lần/ngày khi ra quả thể
  • Năng suất nấm sò tươi thu được đạt từ 900 - 1.000 kg/1 tấn nguyên liệu mùn cưa.
  • Cơ sở xuất bán ra thị trường cả 2 nhóm mặt hàng: bịch phôi nấm giống (phôi đã ăn kín sợi) và nấm thương phẩm (tươi, sấy khô, nấm muối).
  • Thị trường tiêu thụ được mở rộng từ nội tỉnh Thái Nguyên sang các tỉnh lân cận như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang.

Đóng góp thực tiễn của khóa luận

  • Về mặt quản trị: Hệ thống hóa rõ ràng cơ cấu 1 cấp quản lý tại cơ sở sản xuất nông nghiệp quy mô vừa và nhỏ; chỉ ra cách thức người quản lý vừa trực tiếp tham gia sản xuất vừa điều phối lao động thời vụ (sinh viên), tối ưu hóa chi phí nhân công.
  • Về mặt kỹ thuật và đào tạo nghề: Tư liệu hóa quy trình sản xuất nấm theo hướng chuẩn hóa, làm tài liệu hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nông dân vệ tinh liên kết với HTX Quyết Thắng.
  • Đề xuất giải pháp: Đề xuất cơ sở cần đầu tư hệ thống lò sấy cơ nhiệt hiện đại nhằm thay thế việc phơi khô thủ công và bếp than (vốn dễ gây mốc hoặc làm đen đầu nấm); hoàn thiện phương thức bảo quản lạnh ở nhiệt độ 5 - 8°C (giữ nấm tươi trong 24 giờ); đồng thời kiến nghị chính quyền địa phương hỗ trợ vay vốn ưu đãi theo chương trình phát triển sản phẩm quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Thời gian nghiên cứu và thực tập kéo dài hơn 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5/2017), chưa bao quát hết trọn vẹn chu kỳ khí hậu 4 mùa trong năm tại miền Bắc (đặc biệt là giai đoạn nắng nóng đỉnh điểm mùa hè ảnh hưởng đến nấm sò chịu nhiệt).
    • Hoạt động bảo quản và chế biến sâu tại cơ sở còn mang tính thủ công, thiếu máy móc kiểm soát nhiệt độ tự động dẫn đến tỷ lệ hư hao do thời tiết thất thường và sâu bệnh (ruồi nấm, nấm mốc xanh/đen).
    • Lực lượng lao động biến động do phụ thuộc nhiều vào sinh viên làm thêm nhàn rỗi, đòi hỏi chủ cơ sở phải liên tục hướng dẫn lại kỹ thuật.
  • Hướng phát triển tiếp theo:
    • Nghiên cứu sâu hơn về phân tích tài chính dài hạn, đánh giá cụ thể dòng tiền và hiệu quả hoàn vốn đầu tư các trang thiết bị hiện đại (lò hấp thanh trùng áp suất cao, máy sấy lạnh dược liệu).
    • Mở rộng khảo sát chuỗi liên kết giá trị giữa cơ sở sản xuất trung tâm với mạng lưới các hộ vệ tinh và hệ thống siêu thị, chuỗi thực phẩm sạch trên toàn miền Bắc.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên các ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Khuyến nông và Nông học: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu ca điển hình (case study), cách kết hợp giữa quản trị kinh tế trang trại và quy trình kỹ thuật nông nghiệp thực nghiệm.
  • Chủ trang trại, hợp tác xã và hộ nông dân khởi nghiệp nghề nấm: Cung cấp thông số thực tế về định mức phối trộn dinh dưỡng, kích thước túi phôi, nhiệt độ - thời gian khử trùng, cách phòng trừ nấm mốc dại và bố trí lán trại nuôi trồng với mật độ hợp lý (25 dây treo/m3, nhà 300 - 360 m2 treo 8 - 10 vạn túi).
  • Cán bộ khuyến nông cơ sở: Tham khảo để xây dựng giáo trình tập huấn, chuyển giao kỹ thuật trồng nấm ăn và nấm dược liệu cho lao động nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ sở sản xuất nấm của anh Phạm Bá Duy được thành lập vào thời gian nào và quy mô tổ chức ra sao? Cơ sở được thành lập ngày 31/7/2009 theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 17A80016820 (UBND TP. Thái Nguyên cấp). Đến năm 2014 thành lập Hiệp hội nấm Linh Chi Việt và năm 2016 chuyển đổi thành HTX Quyết Thắng gồm 7 thành viên. Cơ sở thuê gần 3.000 m2 mặt bằng tại khuôn viên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sử dụng 4 lao động thường xuyên kết hợp sinh viên làm thêm.

2. Tỷ lệ phối trộn dinh dưỡng cho nguyên liệu mùn cưa trồng nấm Linh chi tại cơ sở là bao nhiêu? Theo số liệu điều tra thực tế năm 2017 tại cơ sở, công thức trộn cho 350 kg mùn cưa nấm Linh chi gồm: 1,5% bột nhẹ, 7% cám ngô, 7% cám gạo, tạo ẩm bằng nước vôi có độ pH = 13 - 14, ủ đống ở nhiệt độ 45 - 50°C với độ ẩm đạt 60 - 65%.

3. Khóa luận phân tích chủ cơ sở sản xuất nấm thực hiện những chức năng quản trị nào? Chủ cơ sở thực hiện 3 chức năng quản trị chính: (1) Chức năng hoạch định (xác định mục tiêu, chiến lược kinh doanh và dự báo thị trường); (2) Chức năng tổ chức phối hợp và điều khiển (phân công nhiệm vụ, hướng dẫn kỹ thuật, đôn đốc nhân công); (3) Chức năng điều chỉnh và thúc đẩy (kiểm tra sai sót, điều chỉnh mất cân đối và áp dụng các biện pháp kinh tế - hành chính nhằm tăng năng suất).

4. Quy trình xử lý và thời vụ nuôi trồng nấm Sò tại cơ sở được thực hiện như thế nào? Mùn cưa được làm ướt bằng nước vôi pH = 12 (2 kg vôi/100 lít nước), ủ 4 - 6 ngày, trộn thêm 20% cám dinh dưỡng, đóng bịch nilon nặng 2,4 - 2,7 kg. Về thời vụ: nhóm nấm sò chịu lạnh (màu tím nhạt) nuôi trồng từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (nhiệt độ 13 - 20°C); nhóm nấm sò chịu nóng (màu trắng) nuôi trồng từ tháng 5 đến tháng 8 (nhiệt độ 24 - 28°C).

5. Những khó khăn lớn nhất mà cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy gặp phải trong thực tế là gì? Cơ sở gặp khó khăn về biến động thời tiết (nắng nóng gay gắt, rét đậm kéo dài); sâu bệnh hại (ruồi nấm, nấm mốc xanh/đen lây lan nhanh); công nghệ bảo quản sau thu hoạch còn thô sơ (chủ yếu phơi sấy bằng bếp than dễ bị mốc/đen đầu); giá nguyên liệu đầu vào không ổn định và lao động thời vụ chưa qua đào tạo bài bản.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lương Văn Thiệu đã phản ánh chân thực, chi tiết bức tranh hoạt động sản xuất kinh doanh và mô hình quản trị tại cơ sở nấm Phạm Bá Duy thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đề tài làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa năng lực điều hành của chủ cơ sở với việc kiểm soát quy trình kỹ thuật nuôi trồng nấm Sò, Mộc nhĩ và Linh chi trên nền cơ chất mùn cưa. Các phân tích về tổ chức lao động, hạch toán kinh tế và giải pháp kỹ thuật trong công trình mang giá trị thực tiễn rõ nét, đóng góp tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nhân rộng mô hình kinh tế trang trại nấm tại các địa phương trung du miền núi phía Bắc.