Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với độ ẩm cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi trồng nấm quanh năm. Bên cạnh lợi thế về tự nhiên, nguồn phế phụ phẩm từ hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến như rơm rạ, mùn cưa, bã mía, thân lõi ngô và bông phế loại rất dồi dào tại các vùng nông thôn. Việc tận dụng các nguồn nguyên liệu này để sản xuất nấm không chỉ tạo ra thực phẩm giàu dinh dưỡng (chứa nhiều protein, vitamin B1, B2, C, PP, các khoáng chất canxi, sắt, kali, magie, photpho, lưu huỳnh và các axit amin không làm tăng cholesterol) mà còn góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường, tái tạo sinh khối và cân bằng sinh thái.

Tại tỉnh Thái Nguyên, cơ sở sản xuất nấm của anh Phạm Bá Duy (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên) là một trong những đơn vị tiên phong ứng dụng công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu. Cơ sở đã duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, cung cấp sản phẩm cho thị trường và tạo việc làm cho lao động địa phương. Nhằm đánh giá toàn diện mô hình này, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy - Trường Đại học Nông Lâm".

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trên hai phương diện:

  • Về chuyên môn:
    1. Tìm hiểu quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy.
    2. Tìm hiểu các hoạt động sản xuất của cơ sở nhằm nhận diện những khó khăn, vướng mắc, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục phù hợp.
    3. Trực tiếp tham gia thực hiện các công đoạn kỹ thuật trong quy trình sản xuất nấm tại cơ sở.
    4. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh để làm rõ thực trạng hoạt động của cơ sở trong năm nghiên cứu.
  • Về thái độ:
    1. Xây dựng mối quan hệ làm việc hài hòa với chủ cơ sở và người lao động.
    2. Chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế làm việc của cơ sở sản xuất.
    3. Hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ chuyên môn được phân công hàng ngày.
    4. Thể hiện tính chủ động trong công việc, hỗ trợ chủ cơ sở trong các hoạt động vận hành thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu chính gồm:

  • Khảo sát nguồn lực hiện có của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy.
  • Phân tích quá trình hình thành, phát triển và mô hình tổ chức bộ máy.
  • Đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ và hiệu quả kinh tế.
  • Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức quản lý, quy trình kỹ thuật nuôi trồng và hiệu quả sản xuất kinh doanh ba loại nấm (nấm Sò, nấm Mộc Nhĩ, nấm Linh Chi).
  • Phạm vi không gian: Cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy, xóm 10, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu và thực nghiệm từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018 (sử dụng dữ liệu hoạt động năm 2017 và giai đoạn 2009–2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm quản trị và kinh tế nông nghiệp:

  • Lý thuyết tổ chức: Tiếp cận quan điểm của Duncan (1981), tổ chức được định nghĩa là tập hợp các cá nhân tương tác lẫn nhau, cùng hướng tới mục tiêu chung theo một cơ cấu nhất định. Mô hình tổ chức phản ánh hệ thống phân công nhiệm vụ, quan hệ quyền lực và báo cáo với hai đặc trưng cơ bản là tính tập trung và tính tiêu chuẩn hóa.
  • Lý thuyết sản xuất kinh doanh nông nghiệp: Phân tích hoạt động tạo ra lợi nhuận của chủ thể kinh doanh gắn liền với sự vận động của đồng vốn, cơ chế thị trường và mô hình quản lý một cấp phù hợp với quy mô kinh tế hộ/trang trại nông thôn.
  • Đặc tính sinh học đối tượng nuôi trồng:
    • Nấm Sò (Pleurotus spp.): Chia thành nhóm chịu lạnh (nhiệt độ quả thể 10–20°C) và nhóm ưa nhiệt (24–28°C hoặc 25–30°C), tai nấm dạng phễu lệch gồm mũ, phiến và cuống.
    • Nấm Linh Chi: Nấm hóa mộc dược liệu, gồm mũ nấm (lớp bóng nâu đỏ, thụ tầng tổ ong), bào tử, chân nấm và khuẩn ty; có dược tính bảo vệ gan, trợ tim, tiêu đờm, lợi tiểu.
    • Nấm Mộc Nhĩ: Quả thể dạng tai người, dày 0,6–1,6 mm, rộng 2–9 cm, chất keo khi tươi và chất da khi khô.

Cơ sở pháp lý được sử dụng bao gồm:

  • Quyết định số 2690/QĐ-BNN-KHCN năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Đề án khung phát triển sản phẩm quốc gia "Sản phẩm nấm ăn và nấm dược liệu".
  • Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
  • Nghị định số 30/1998/NĐ-CP và Nghị định số 51/1999/NĐ-CP về thuế thu nhập doanh nghiệp và khuyến khích đầu tư trong nước.
  • Nghị định số 85/NĐ-CP và Nghị định số 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất nông lâm nghiệp; Luật Đất đai năm 2003 (Điều 82).
  • Thông tư số 51/TT-BNN&PTNT năm 2014 về an toàn thực phẩm; Nghị định số 14/2004/NĐ-CP về thành lập xã Quyết Thắng.

Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu từ báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Quyết Thắng, tài liệu của các cơ quan quản lý chuyên ngành, các công trình nghiên cứu và sách báo khoa học.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp (Công cụ PRA):
    • Phỏng vấn sâu trực tiếp chủ cơ sở sản xuất và các thành viên.
    • Quan sát tham dự trực tiếp tại các khu nhà xưởng đóng bịch, lò hấp, phòng cấy giống, nhà ươm và nhà nuôi trồng thu hái.
  • Phương pháp phân tích: Thống kê mô tả, phương pháp chuyên khảo và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh.
  • Hệ thống chỉ tiêu kinh tế:
    • Giá trị sản xuất ($GO = \sum P_i \cdot Q_i$).
    • Chi phí trung gian ($IC = \sum C_i$).
    • Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC = V + C + M$, trong đó $V$ là chi phí lao động, $C$ là khấu hao tài sản cố định, $M$ là giá trị thặng dư).
    • Các chỉ tiêu hiệu quả: $GO/\text{ha}$, $VA/\text{ha}$, tỷ suất $GO/IC$, năng suất lao động $GO/\text{LĐ}$ và $VA/\text{LĐ}$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng phát triển nghề trồng nấm tại Việt Nam, nhu cầu thực phẩm sạch trên thị trường và thực trạng hoạt động của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy tại địa bàn thành phố Thái Nguyên. Tác giả xác định rõ hệ thống mục tiêu chuyên môn, mục tiêu thái độ, nội dung thực hiện, phương pháp điều tra thu thập dữ liệu sơ cấp - thứ cấp, phương pháp xử lý thông tin, hệ thống chỉ tiêu hạch toán và phạm vi nghiên cứu từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018.

Phần 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở thực tiễn

Chương này tổng kết các khái niệm lý luận về tổ chức, cơ cấu bộ máy quản lý, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng (chính sách tín dụng, đất đai, lao động, thị trường và năng lực người quản lý).

Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp tình hình ngành nấm:

  • Thế giới: Khoảng 2.000 loài nấm được phát hiện, 80 loài nuôi trồng thương mại, sản lượng toàn cầu đạt khoảng 25 triệu tấn/năm. Trung Quốc dẫn đầu (20,2 triệu tấn năm 2010, giá trị khoảng 300 tỷ NDT), Hàn Quốc đạt giá trị sản xuất nấm gần 8 tỷ USD năm 2008.
  • Việt Nam: Sản xuất khoảng 16 loại nấm với sản lượng khoảng 250.000 tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 25–30 triệu USD (năm 2011 đạt 90 triệu USD). Vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 90% sản lượng nấm rơm và 70% sản lượng nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc chiếm ưu thế về nấm sò, nấm hương và nấm linh chi.
  • Bài học kinh nghiệm: Phân tích mô hình sản xuất công nghiệp tại Công ty TNHH Công nghệ sinh học Phú Gia (Đại Từ, Thái Nguyên - diện tích 25.000 m², máy đóng bịch 36 bịch/phút, lò hấp 89 m³, quy mô 30 lao động) và mô hình trang trại nông hộ của chị Nguyễn Thị Linh (Đông Anh, Hà Nội - diện tích 1.500 m², sản lượng trên 3 tấn nấm thương phẩm, lợi nhuận hơn 500 triệu đồng/năm).

Phần 3: Kết quả thực tập và nghiên cứu thực tế

Chương này tập trung phản ánh các kết quả khảo sát thực tế tại địa bàn và cơ sở:

  • Điều kiện tự nhiên - xã hội xã Quyết Thắng: Diện tích tự nhiên 1.155,52 ha (đất nông nghiệp 793,31 ha, đất phi nông nghiệp 347,47 ha, đất chưa sử dụng 14,74 ha); dân số 10.345 người với 2.387 hộ; lực lượng lao động 4.000 người (nông nghiệp chiếm 60%, dịch vụ 35%, công nghiệp - xây dựng 5%).
  • Quá trình phát triển của cơ sở Phạm Bá Duy: Thành lập ngày 31/7/2009 (Giấy chứng nhận ĐKKD số 17A80016820 do UBND thành phố Thái Nguyên cấp), vốn điều lệ 630 triệu đồng, năm 2014 thành lập Hiệp hội nấm Linh Chi Việt, năm 2016 mở rộng thành lập Hợp tác xã Quyết Thắng gồm 7 thành viên. Quy mô nhà xưởng ban đầu 3.000 m² và phát triển mạng lưới các hộ gia đình vệ tinh.

Danh sách 7 thành viên sáng lập HTX Quyết Thắng được tổng hợp trong bảng sau:

STT Họ và tên Năm sinh Trình độ học vấn Dân tộc Địa chỉ thường trú
1 Phạm Bá Duy 1986 12/12 Kinh P. Quang Vinh, TP. Thái Nguyên
2 Nguyễn Trọng Hiệp 1974 12/12 Kinh Xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên
3 Ma Văn Diên 1988 12/12 Tày Xã La Hiên, H. Võ Nhai, T. Thái Nguyên
4 Trần Văn Lợi 1991 12/12 Kinh Xã Vĩnh Quang, H. Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng
5 Đặng Quang Tảo 1973 12/12 Kinh Xã Hóa Thượng, H. Đồng Hỷ, T. Thái Nguyên
6 Phạm Huy Toàn 1958 7/10 Kinh Tổ 5, P. Túc Duyên, TP. Thái Nguyên
7 Dương Quốc Trọng 1991 12/12 Kinh P. Bách Quang, TP. Sông Công, T. Thái Nguyên
  • Cơ cấu tổ chức: Cơ sở vận hành theo mô hình trực tuyến 1 cấp quản lý do ông Phạm Bá Duy điều hành chung, phân chia thành 3 bộ phận chức năng:
    • Bộ phận sản xuất (3 lao động: Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Toàn, Nguyễn Thị Ánh) phụ trách chăm sóc, thu hái.
    • Bộ phận bán hàng - marketing (1 nhân sự: Trần Văn Kiên) phụ trách tiếp thị và phân phối.
    • Bộ phận quản lý - hậu cần (3 nhân sự: Phạm Huy Toàn, Đặng Thị Tuyết, Nguyễn Thị Thương) quản lý vật tư, sửa chữa máy móc và sổ sách.
  • Kỹ thuật phối trộn nguyên liệu: Cơ sở áp dụng định lượng phối trộn mùn cưa và phụ gia dinh dưỡng theo công thức riêng cho từng loại nấm.
STT Loại nấm Lượng mùn cưa (kg) Bột nhẹ (%) Cám ngô (%) Cám gạo (%)
1 Nấm Linh Chi 350 1,5 7 7
2 Nấm Mộc Nhĩ 450 - 23 -
3 Nấm Sò 450 - 20 -
  • Quy trình công nghệ và chăm sóc:
    • Xử lý nguyên liệu: Mùn cưa được tạo ẩm bằng nước vôi (pH = 12), ủ đống từ 20–40 ngày (nấm sò ủ 4–6 ngày có đảo đống), đóng túi PP/nilon chịu nhiệt trọng lượng 1,5–2,0 kg/túi (hoặc 1,3–1,4 kg mùn ướt).
    • Hấp khử trùng: Thực hiện ở nhiệt độ 95–100°C trong nồi hấp áp suất hoặc lò hơi thủ công (thời gian hấp 10–12 giờ đối với thùng phi hoặc 15–18 giờ đối với lò áp suất).
    • Cấy giống và nuôi sợi: Cấy giống trong phòng vô trùng trên ngọn đèn cồn (tỷ lệ 1 túi giống 0,5 kg cấy cho 30–40 bịch phôi; tương đương 16–20 bịch/kg giống). Nuôi sợi trong nhà tối, thoáng khí từ 20–30 ngày (nấm sò 20–25 ngày, mộc nhĩ 22–28 ngày).
    • Rạch bịch và chăm sóc: Bịch nấm sò được rạch 6–8 đường so le dài 5–6 cm; sau rạch 4–6 ngày tiến hành tưới phun sương 4–6 lần/ngày. Nấm mộc nhĩ và linh chi xếp trên giàn sắt/gỗ hoặc treo dây cách nhau 10–15 cm, tạo lối đi rộng 80 cm.
    • Thu hoạch và chế biến: Năng suất nấm tươi đạt 900–1.000 kg/tấn nguyên liệu. Nấm tươi bảo quản ở 5–8°C giữ được 24 giờ; nấm sấy phơi ở nhiệt độ 40–50°C đạt độ ẩm dưới 12%; nấm muối chế biến theo tỷ lệ 1 kg nấm + 0,2 lít dung dịch muối bão hòa + 0,3 kg muối khô + 3 gam axit citric.

Kết quả và đóng góp

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:

  • Trong năm 2017, cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy đã cung ứng ra thị trường tổng cộng 70.700 bịch nấm thương phẩm và nấm giống thành phẩm.
  • Tổng doanh thu bán hàng của cơ sở trong năm 2017 đạt 702.000.000 đồng.
  • Về mặt thị trường, cơ sở đã mở rộng kênh phân phối từ nội tỉnh Thái Nguyên sang các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc như Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang.
  • Cơ sở giải quyết việc làm thường xuyên cho 4 lao động địa phương và tạo việc làm bán thời gian cho sinh viên Trường Đại học Nông Lâm.

Các đề xuất và giải pháp của tác giả:

  • Về kỹ thuật và công nghệ: Đề xuất chuyển đổi từ phương pháp đóng bịch và đảo nguyên liệu thủ công sang sử dụng máy móc chuyên dụng; nâng cấp hệ thống lò sấy nhiệt hiện đại thay thế cho sấy bếp than thủ công nhằm hạn chế nấm bị đen đầu, ám khói và ẩm mốc; kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ, độ ẩm và phòng trừ ruồi nấm, mốc xanh, mốc đen.
  • Về quản lý và lao động: Tổ chức tập huấn kỹ thuật bài bản cho lao động mùa vụ; hoàn thiện hệ thống sổ sách kế toán theo dõi chi phí đầu vào và doanh thu định kỳ.
  • Về thị trường: Xây dựng thương hiệu nấm sạch, mở rộng hợp đồng tiêu thụ trực tiếp với các bếp ăn tập thể, siêu thị và tăng cường liên kết chuyển giao kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm cho các hộ vệ tinh trong HTX Quyết Thắng.

Đóng góp của đề tài:

  • Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về mô hình tổ chức 1 cấp quản lý và hạch toán kinh tế tại cơ sở sản xuất nấm quy mô nông hộ - hợp tác xã.
  • Cung cấp các thông số kỹ thuật thực nghiệm chi tiết (tỷ lệ phối trộn phụ gia, chế độ nhiệt - ẩm, thời gian hấp vô trùng, định mức cấy giống) có khả năng ứng dụng thực tế cho các cơ sở sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu tại khu vực miền núi phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa giới hạn trong 4,5 tháng (từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2018), do đó dữ liệu hạch toán chi phí - doanh thu chỉ mới phản ánh trọn vẹn năm tài chính 2017 mà chưa so sánh được chuỗi biến động đa năm.
  • Nghiên cứu tập trung chính vào khâu sản xuất và tiêu thụ nấm thô, chưa đi sâu phân tích định lượng các hoạt chất sinh học (dược tính) của nấm Linh Chi sau các quy trình chế biến và sấy khô khác nhau.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chuỗi liên kết giá trị giữa Hợp tác xã Quyết Thắng với mạng lưới các hộ nông dân vệ tinh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Nghiên cứu ứng dụng các thiết bị tự động hóa kiểm soát vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ khí) trong nhà nuôi trồng nấm nhằm giảm thiểu rủi ro do biến đổi thời tiết.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Nông học và Công nghệ sinh học tại các trường đại học khối nông - lâm nghiệp.
  • Các cá nhân, hộ nông dân và chủ trang trại đang chuẩn bị khởi nghiệp hoặc mở rộng mô hình trồng nấm ăn, nấm dược liệu; đặc biệt có giá trị tham khảo cao ở bảng định lượng tỷ lệ phối trộn mùn cưa với cám ngô, cám gạo, bột nhẹ và quy trình xử lý nguyên liệu, khử trùng, cấy giống.
  • Các cán bộ khuyến nông và cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương trong việc xây dựng mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phối trộn mùn cưa và bột dinh dưỡng cho từng loại nấm tại cơ sở Phạm Bá Duy được quy định như thế nào? Theo số liệu điều tra tại cơ sở, tỷ lệ phối trộn được xác định cụ thể:

  • Nấm Linh Chi: 350 kg mùn cưa phối trộn với 1,5% bột nhẹ, 7% cám ngô và 7% cám gạo.
  • Nấm Mộc Nhĩ: 450 kg mùn cưa phối trộn với 23% cám ngô.
  • Nấm Sò: 450 kg mùn cưa phối trộn với 20% cám ngô.

2. Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy gồm những bộ phận nào và được bố trí nhân sự ra sao? Cơ sở hoạt động theo mô hình 1 cấp quản lý do ông Phạm Bá Duy trực tiếp điều hành chung toàn bộ hoạt động. Bộ máy gồm 3 bộ phận trực thuộc:

  • Bộ phận sản xuất (3 người): Bà Nguyễn Thị Hoa, bà Nguyễn Thị Toàn, bà Nguyễn Thị Ánh (trực tiếp trồng, chăm sóc và thu hoạch).
  • Bộ phận bán hàng - marketing (1 người): Ông Trần Văn Kiên (phụ trách tiếp thị và tiêu thụ).
  • Bộ phận quản lý - hậu cần (3 người): Ông Phạm Huy Toàn, bà Đặng Thị Tuyết, bà Nguyễn Thị Thương (quản lý công cụ, sửa chữa thiết bị, ghi chép sổ sách và nhập nguyên vật liệu).

3. Quy trình hấp khử trùng và định mức cấy giống nấm tại cơ sở được thực hiện theo tiêu chuẩn nào? Nguyên liệu sau khi đóng túi chịu nhiệt được hấp khử trùng ở nhiệt độ 95–100°C trong 10–12 giờ (đối với thùng phi hấp cách thủy) hoặc 15–18 giờ (đối với lò hấp hơi nước bão hòa). Sau khi để nguội 24 giờ, bịch nấm được cấy giống trong phòng kín gió trên ngọn đèn cồn với định mức 1 túi giống 0,5 kg cấy cho 30–40 bịch phôi (tương đương tỷ lệ 16–20 bịch/kg giống).

4. Quy mô sản xuất và kết quả doanh thu năm 2017 của cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy đạt mức bao nhiêu? Trong năm 2017, cơ sở đã sản xuất và thu hoạch được 70.700 bịch nấm thương phẩm và bịch giống thành phẩm, mang lại tổng doanh thu đạt 702.000.000 đồng, thị trường tiêu thụ mở rộng sang các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang.

5. Năng suất sinh học và phương pháp bảo quản, chế biến nấm sau thu hoạch tại cơ sở được thực hiện ra sao? Năng suất nấm tươi của cơ sở đạt 900–1.000 kg trên 1 tấn nguyên liệu mùn cưa. Sản phẩm được chế biến theo 3 hình thức: bán tươi (bảo quản ở 5–8°C trong 24 giờ), phơi/sấy khô ở nhiệt độ 40–50°C (đưa độ ẩm xuống dưới 12% rồi đóng 2 lớp túi PE kín) và muối nấm (chần nước sôi 5–7 phút, phối trộn 1 kg nấm với 0,2 lít dung dịch muối bão hòa, 0,3 kg muối khô và 3 g axit citric).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Ngọc đã phản ánh toàn diện thực trạng tổ chức quản lý và quy trình kỹ thuật sản xuất kinh doanh tại cơ sở sản xuất nấm Phạm Bá Duy - HTX Quyết Thắng. Đề tài cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chi tiết về định mức phối trộn dinh dưỡng, quy trình nuôi cấy nấm Sò, Mộc Nhĩ, Linh Chi và phân tích kết quả kinh tế đạt doanh thu 702 triệu đồng trong năm 2017. Các giải pháp đề xuất về cơ giới hóa, nâng cấp công nghệ sấy và hoàn thiện chuỗi liên kết hộ vệ tinh có giá trị ứng dụng thiết thực cho việc phát triển ngành sản xuất nấm tại tỉnh Thái Nguyên.