Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, mô hình kinh tế trang trại (KTTT) đóng vai trò then chốt nhằm chuyển đổi nền sản xuất tiểu nông tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. So với các mô hình tập thể hoặc quốc doanh trước đây, kinh tế trang trại chứng minh được tính thích ứng cao với quy luật thị trường nhờ khả năng tối ưu hóa nguồn lực đất đai, nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Tuy nhiên, sự phát triển của các trang trại chăn nuôi lợn tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều rào cản: quy hoạch dàn trải thiếu đồng bộ, chủ trang trại thiếu kỹ năng quản trị và hạch toán kinh tế, thị trường giá cả đầu vào (thức ăn, con giống) và đầu ra (thịt hơi) bấp bênh, cùng áp lực kiểm soát dịch bệnh và xử lý môi trường.

Để giải quyết khoảng cách giữa lý thuyết quản lý kinh tế và thực tiễn vận hành trang trại, tác giả Trần Thị Bích Hồng đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm tìm hiểu toàn diện hoạt động hạch toán chi phí và tổ chức sản xuất kinh doanh tại trang trại chăn nuôi lợn thương phẩm quy mô lớn trên địa bàn xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể theo các nhóm nhiệm vụ:

  1. Về chuyên môn:
    • Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất kinh tế trang trại chăn nuôi lợn; tổng kết các bài học kinh nghiệm phát triển trang trại tại một số địa phương.
    • Tìm hiểu, phân tích quy trình tổ chức sản xuất kinh doanh và phương pháp hạch toán chi phí thực tế tại cơ sở.
    • Đánh giá thực trạng các nguồn lực sản xuất (đất đai, lao động, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật) của trang trại.
    • Nhận diện các khó khăn, trở ngại, nguyên nhân tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT).
    • Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại tại địa phương.
  2. Về kỹ năng và thái độ: Rèn luyện kỹ năng thu thập, xử lý số liệu sơ cấp thông qua phương pháp tiếp cận có sự tham gia, quan sát hiện trường, thảo luận chuyên môn và chấp hành kỷ luật lao động trong môi trường trang trại thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động hạch toán kinh tế (chi phí đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc, thức ăn, con giống, thuốc thú y, nhân công, khấu hao, doanh thu, lợi nhuận) và cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại.
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi lợn thịt của gia đình ông Nguyễn Văn Bắc, tọa lạc tại xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (quy mô diện tích 2,8 ha; quy mô chuồng nuôi 1.800 con lợn thịt/lứa).
  • Phạm vi thời gian: Thời gian thu thập số liệu và thực tập thực tế diễn ra từ ngày 06/02/2017 đến ngày 29/04/2017; các dữ liệu hạch toán kinh tế và kết quả sản xuất kinh doanh được hồi cứu, tổng hợp trong giai đoạn 2010 – 2016 và cập nhật đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung nghiên cứu dựa trên các khái niệm kinh tế học nông nghiệp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước:

  • Hệ thống khái niệm: Hạch toán (hoạt động quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép quá trình tái sản xuất); Hạch toán kế toán (thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin tài sản và sự vận động tài sản); Tổ chức sản xuất (bố trí các công đoạn từ yếu tố đầu vào đến đầu ra nhằm tối ưu hóa chi phí và rút ngắn chu kỳ sản xuất); Kinh tế trang trại theo quan điểm Mác - Lênin và định nghĩa tại Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ.
  • Khung pháp lý và chính sách:
    • Tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (quy định trang trại chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên).
    • Khung thời gian trích khấu hao tài sản cố định áp dụng theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính (xác định chu kỳ khấu hao chuồng trại chăn nuôi là 15 năm).
    • Các chính sách hỗ trợ phát triển KTTT: Chính sách đất đai (Nghị định số 85/1999/NĐ-CP, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP); Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (Nghị định số 218/2013/NĐ-CP); Chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn (Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg, Nghị định số 85/2002/NĐ-CP).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Trích xuất số liệu thống kê tự nhiên, kinh tế - xã hội từ các báo cáo tổng kết của UBND xã Yên Phụ, UBND huyện Yên Phong, các ấn phẩm sách báo khoa học và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Phương pháp tiếp cận có sự tham gia (PRA): Tác giả trực tiếp tham gia vào các công đoạn vận hành hàng ngày của trang trại như vệ sinh chuồng nuôi, dọn phân, kiểm tra cám, thuốc thú y, hỗ trợ tiêm phòng và giám sát đàn lợn.
    • Phương pháp quan sát trực tiếp: Theo dõi quy trình kỹ thuật phòng dịch, ghi nhận số lượng lợn nhập/xuất chuồng, định mức tiêu thụ thức ăn và kiểm tra sổ sách theo dõi thu - chi.
    • Phương pháp thảo luận chuyên sâu: Phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại (ông Nguyễn Văn Bắc) và đội ngũ nhân sự kỹ thuật về nguồn vốn, chi phí, kênh tiêu thụ và các vướng mắc thực tế.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Kiểm tra, chuẩn hóa và tổng hợp dữ liệu số liệu; ứng dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và hạch toán kinh tế (xác định chi phí cố định, chi phí biến đổi, doanh thu và lợi nhuận thuần theo công thức: $\text{Lợi nhuận} = \text{Tổng doanh thu} - \text{Tổng chi phí sản xuất} - \text{Khấu hao TSCĐ} - \text{Chi phí phân bổ CCDC}$). Sử dụng ma trận SWOT để đánh giá năng lực cạnh tranh của mô hình.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ bộc lộ nhiều điểm yếu về dịch bệnh và hiệu quả kinh tế, đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình trang trại quy mô lớn. Phần mở đầu xác định rõ 5 mục tiêu chuyên môn, mục tiêu rèn luyện thái độ, kỹ năng nghề nghiệp, phạm vi không gian tại xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, thời gian thực hiện từ 06/02/2017 đến 29/04/2017 và hệ thống phương pháp thu thập, xử lý số liệu sơ cấp - thứ cấp.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở lý luận về kinh tế trang trại và hạch toán kinh tế trong nông nghiệp. Tác giả phân tích tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới (70% đàn lợn tập trung tại châu Á và châu Âu) và thực trạng ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015. Mặc dù sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng bình quân 2,12%/năm (từ 3,09 triệu tấn năm 2011 lên ước đạt 3,37 triệu tấn năm 2015, chiếm 72 - 74% tổng sản lượng thịt các loại), ngành chăn nuôi trong nước vẫn còn 65 - 70% tổng đàn thuộc khu vực nông hộ, năng lực chế biến sâu còn yếu và nguy cơ ô nhiễm môi trường cao.

Phần tổng quan phân tích sâu 3 mô hình kinh tế trang trại tiêu biểu:

  1. Mô hình nuôi lợn nái kết hợp lợn thịt của ông Lê Văn Thính (xã Đông Quang, huyện Ba Vì, Hà Nội): Quy mô 1,7 ha, duy trì đàn nái sản xuất 2.400 lợn giống/năm, nuôi 1.000 lợn thịt thương phẩm, ứng dụng hệ thống làm mát chuồng nái trị giá 75 triệu đồng do Trạm Khuyến nông hỗ trợ, doanh thu đạt gần 800 triệu đồng/năm.
  2. Mô hình nuôi lợn siêu nạc khép kín của ông Nguyễn Văn Đồng (xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang): Diện tích chuồng 450 m², duy trì 28 nái siêu nạc, thường xuyên nuôi 250 lợn thịt, xuất bán 50 tấn lợn hơi/năm, thu lãi 200 – 250 triệu đồng/năm, kết hợp hầm Biogas và bán phụ phẩm (vỏ bao cám, phân khô).
  3. Mô hình trang trại của ông Nguyễn Hữu Tân (xã Đình Cao, huyện Phù Cừ, Hưng Yên): Quy mô 70 nái ngoại, 100 – 200 lợn thương phẩm, cung ứng 1.500 – 2.000 con giống/năm, tự trang bị máy nghiền phối trộn thức ăn để giảm giá thành, thu nhập giai đoạn 2010 – 2011 đạt 1,8 tỷ đồng.

Từ 3 mô hình, tác giả rút ra 5 bài học kinh nghiệm: tập trung vùng có lợi thế thức ăn; chọn lọc giống chuẩn hóa; tận dụng chính sách hỗ trợ của Nhà nước; kết hợp bảo vệ môi trường (hầm Biogas, đệm lót sinh học); đa dạng hóa quy mô trang trại gia đình khép kín.

Phần 3: Kết quả thực tập

1. Khái quát địa bàn và cơ sở thực tập

Xã Yên Phụ có diện tích tự nhiên 553,96 ha, nằm trên trục Tỉnh lộ 286, gần Quốc lộ 18 và Quốc lộ 3. Năm 2015, toàn xã có 2.735 hộ (11.627 nhân khẩu), tỷ trọng nông nghiệp chiếm 44,5%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ chiếm 55,5%. Toàn xã có 6 trang trại chăn nuôi lợn quy mô lớn (điển hình như trang trại ông Nguyễn Văn Phi quy mô 300 nái và 1.200 lợn thịt; ông Trần Văn Kiến 70 nái và 1.100 lợn thịt).

Trang trại của ông Nguyễn Văn Bắc được đầu tư xây dựng từ năm 2010 trên diện tích 2,8 ha đất nông nghiệp chuyển đổi xa khu dân cư. Tổng diện tích khu chuồng nuôi lợn thịt là 3.000 m² (gồm 3 dãy chuồng đơn kiên cố, công suất nuôi 600 con/chuồng, đạt tổng quy mô 1.800 con lợn thịt/lứa). Năm 2015, trang trại được vinh danh là trang trại điểm của huyện Yên Phong.

2. Đánh giá các nguồn lực sản xuất của trang trại

  • Nguồn lực lao động: Năm 2017, trang trại sử dụng 8 lao động (5 lao động có kinh nghiệm lâu năm, 2 lao động chưa qua đào tạo và 1 sinh viên thực tập). Chủ trang trại là ông Nguyễn Văn Bắc (51 tuổi, trình độ 8/12, trực tiếp chỉ đạo kỹ thuật và điều hành chung).
  • Nguồn lực vốn: Tổng vốn đầu tư ban đầu đạt 7 tỷ đồng, trong đó vốn tự có là 5 tỷ đồng (chiếm 71,42%) và vốn vay Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Phong là 2 tỷ đồng (chiếm 28,58%).
Chỉ tiêu nguồn vốn Giá trị (Tỷ đồng) Cơ cấu (%)
Vốn tự có của trang trại 5,0 71,42
Vốn vay ngân hàng thương mại 2,0 28,58
Tổng số vốn đầu tư 7,0 100,00

3. Hạch toán chi phí đầu tư cơ bản và trang thiết bị (năm 2010)

Tổng chi phí xây dựng cơ bản ban đầu là 3.653,35 triệu đồng, trong đó xây dựng 3.000 m² chuồng nuôi lợn thịt chiếm 3.000 triệu đồng (82,1%), hệ thống Biogas bọc bạt 2.000 m³ chiếm 160 triệu đồng, đường nội bộ 217 triệu đồng, nhà điều hành 102 triệu đồng, tường rào bao quanh 93,55 triệu đồng, nhà công nhân 40 triệu đồng, kho cám 24 triệu đồng, bể nước 12 triệu đồng, nhà sát trùng 4,8 triệu đồng.

Tổng chi phí mua sắm trang thiết bị ban đầu đạt 443 triệu đồng, bao gồm: 32 quạt thông gió (170 triệu đồng), 75 tấm giàn mát làm mát chuồng trại (41,5 triệu đồng), 1 cầu cân điện tử (16,35 triệu đồng), 3 máy phun khử trùng (8 triệu đồng), 312 núm uống tự động (7,2 triệu đồng) và các công cụ phụ trợ khác.

4. Hạch toán chi phí sản xuất hàng năm và trích khấu hao (năm 2016)

Với quy mô nuôi 2 lứa/năm (1.800 con/lứa, tổng xuất chuồng 3.600 con/năm):

  • Chi phí con giống: Mua lợn giống khối lượng 7 kg/con với giá 1.600.000 đồng/con; tổng chi phí con giống cho 2 lứa là 5.760.000.000 đồng/năm.
  • Chi phí thức ăn (cám công nghiệp): Định mức mỗi con lợn ăn hết 9 bao cám (25 kg/bao) qua 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1 (7 – 20 kg): 1 bao/con $\rightarrow$ 1.800 bao $\times$ 250.000 đ = 450.000.000 đồng/lứa.
    • Giai đoạn 2 (20 – 60 kg): 4 bao/con $\rightarrow$ 7.200 bao $\times$ 250.000 đ = 1.800.000.000 đồng/lứa.
    • Giai đoạn 3 (60 – 110 kg): 4 bao/con $\rightarrow$ 7.200 bao $\times$ 250.000 đ = 1.800.000.000 đồng/lứa.
    • Tổng chi phí cám cho 1 lứa là 4.050.000.000 đồng (2 lứa đạt 8.100.000.000 đồng/năm).
  • Chi phí thuốc thú y, phòng dịch: Trung bình 135.000 đồng/con (trong đó vaccine là 70.000 đ/con, kháng sinh và thuốc bổ là 65.000 đ/con); chi phí cho 1 lứa 1.800 con là 243.000.000 đồng (2 lứa là 486.000.000 đồng/năm).
  • Chi phí thường xuyên khác: Chi phí thuê 6 công nhân (5 triệu đồng/người/tháng) là 360.000.000 đồng/năm; tiền điện vận hành quạt và giàn mát là 240.000.000 đồng/năm (20 triệu đồng/tháng); lãi vay ngân hàng (lãi suất 0,9%/tháng cho 2 tỷ đồng vốn vay) là 216.000.000 đồng/năm.
  • Tổng chi phí sản xuất trung bình 1 năm (chưa gồm khấu hao): 15.162.000.000 đồng.
  • Khấu hao và phân bổ: Khấu hao chuồng trại áp dụng thời hạn 15 năm theo Thông tư 45/2013/TT-BTC; trang thiết bị, máy móc (quạt thông gió, máy phun, giàn mát, núm uống, cân điện tử) được phân bổ đều cho 2 lứa nuôi trong năm.

5. Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2015 – 2016

Hàng năm, trang trại nuôi 2 lứa, mỗi lứa 1.800 con, tỷ lệ hao hụt bình quân 2%/lứa (số lợn xuất bán thực tế đạt 1.764 con/lứa, tương đương 3.528 con/năm). Trọng lượng xuất chuồng bình quân đạt 105 – 110 kg/con, cung cấp cho thị trường khoảng 378 tấn lợn thịt hơi/năm.

Năm Lứa nuôi Số con nhập Tỷ lệ hao hụt (%) Trọng lượng TB (kg/con) Giá bán lợn hơi (đ/kg) Doanh thu lứa (1.000 đ)
2015 Lứa 1 1.800 2 105 43.000 7.964.460
Lứa 2 1.800 2 105 46.000 8.519.220
2016 Lứa 1 1.800 2 105 45.000 8.334.300
Lứa 2 1.800 2 105 44.000 8.149.380

Sau khi trừ toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ công cụ dụng cụ:

  • Lợi nhuận thuần năm 2015 đạt: 971.375.340 đồng.
  • Lợi nhuận thuần năm 2016 đạt: 802.670.000 đồng (suy giảm do biến động giảm giá bán thịt lợn hơi và áp lực chi phí thức ăn).

6. Cơ cấu tổ chức, quy trình phòng dịch và phân tích SWOT

  • Bộ máy tổ chức: Vận hành theo mô hình trực tuyến tinh gọn: Chủ trang trại trực tiếp quản lý, giám sát và chỉ đạo kỹ thuật tới công nhân phụ trách tại 3 dãy chuồng nuôi.
  • Quy trình phòng dịch: Thực hiện vệ sinh tiêu độc khử trùng định kỳ (phun sát trùng chuồng 1 lần/tuần, phun khử mùi 2 lần/tháng), cách ly khu chăn nuôi bằng hố sát trùng tại cổng ra vào, tuân thủ nghiêm ngặt lịch tiêm phòng vaccine dịch tả, tai xanh, lở mồm long móng.
  • Kênh tiêu thụ: Sản phẩm thịt lợn hơi chủ yếu xuất bán cho hệ thống thương lái thu mua tại chuồng để vận chuyển đến các lò mổ và thị trường tiêu thụ tại Bắc Ninh, Hà Nội.
  • Phân tích SWOT:
    • Điểm mạnh (S): Diện tích tập trung (2,8 ha), cách xa khu dân cư; cơ sở hạ tầng chuồng kín hiện đại có hệ thống quạt hút và giàn mát làm mát tự động; chủ trại có kinh nghiệm kỹ thuật vững vàng.
    • Điểm yếu (W): Vốn tự có còn mỏng, phụ thuộc vốn vay ngân hàng (28,58%); đội ngũ lao động chưa qua đào tạo nghề chính quy; khâu ghi chép sổ sách hạch toán kế toán chưa chuyên nghiệp.
    • Cơ hội (O): Nhu cầu tiêu thụ thịt lợn sạch tại các vùng đô thị và khu công nghiệp Bắc Ninh rất lớn; nhận được sự hỗ trợ về chính sách nông nghiệp nông thôn của địa phương.
    • Thách thức (T): Giá thức ăn công nghiệp phụ thuộc nhập khẩu; giá lợn hơi biến động thất thường; rủi ro dịch bệnh bùng phát trên diện rộng.

Phần 4: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng kết hiệu quả toàn diện của mô hình kinh tế trang trại ông Nguyễn Văn Bắc và đưa ra 2 nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Đối với chủ trang trại: Cần mở rộng quy trình kiểm soát sổ sách hạch toán dòng tiền chặt chẽ; chủ động đàm phán hợp đồng cung ứng cám và tiêu thụ lợn trực tiếp với các doanh nghiệp chế biến để cắt giảm chi phí trung gian; tổ chức tập huấn kỹ thuật tiêm phòng, an toàn lao động cho công nhân.
  2. Đối với chính quyền địa phương: Đề nghị UBND xã Yên Phụ và huyện Yên Phong tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trang trại lâu dài; hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP; tăng cường mở các lớp tập huấn khuyến nông - thú y tại địa bàn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa chi tiết toàn bộ bức tranh tài chính và hiệu quả vận hành của một trang trại chăn nuôi lợn thịt thương phẩm quy mô 1.800 con/lứa:

  • Dữ liệu kinh tế cụ thể: Xác định tổng vốn đầu tư ban đầu đạt 7 tỷ đồng (xây dựng cơ bản 3,653 tỷ đồng; trang thiết bị 443 triệu đồng); tổng chi phí vận hành hàng năm khoảng 15,162 tỷ đồng (chi phí cám chiếm tỷ trọng lớn nhất với 8,1 tỷ đồng/năm, tương đương 53,4%; tiền giống 5,76 tỷ đồng/năm, tương đương 38%). Trang trại duy trì sản lượng xuất chuồng 378 tấn lợn hơi/năm, mang lại doanh thu trên 16,4 tỷ đồng và lợi nhuận thuần đạt 971,37 triệu đồng (năm 2015) và 802,67 triệu đồng (năm 2016).
  • Giải pháp đề xuất: Đưa ra quy trình hạch toán chi phí phân kỳ theo 3 giai đoạn sinh trưởng của lợn thịt; giải pháp tối ưu hóa khẩu phần ăn bằng máng ăn tự động và núm uống tự động để giảm hao phí cám; hoàn thiện quy trình kiểm soát an toàn sinh học bằng hệ thống Biogas bọc bạt 2.000 m³ và giàn mát chuồng kín.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầy đủ về định mức tiêu hao nguyên liệu, chu kỳ khấu hao tài sản cố định (15 năm theo Thông tư 45/2013/TT-BTC) và hiệu quả tài chính của mô hình kinh tế trang trại tư nhân vùng Đồng bằng sông Hồng, làm căn cứ thực tiễn cho công tác chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu:

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu thực tế tại cơ sở diễn ra trong 3 tháng (tháng 2 đến tháng 4/2017), dữ liệu hạch toán chủ yếu tập trung vào một mô hình trang trại đơn lẻ (case study), chưa có điều kiện so sánh đối chứng mở rộng với toàn bộ 5 trang trại lợn lớn còn lại trên địa bàn xã Yên Phụ. Việc hạch toán chi phí môi trường và chi phí xử lý chất thải phụ phẩm chưa được tách thành tiểu mục riêng biệt.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Tiếp tục nghiên cứu mô hình chuỗi giá trị chăn nuôi lợn khép kín (liên kết từ sản xuất lợn nái sinh sản - nuôi lợn thịt thương phẩm - giết mổ chế biến - tiêu thụ), đánh giá tác động của các cú sốc biến động giá thịt lợn hơi trên thị trường tự do đối với khả năng trả nợ vay ngân hàng của các trang trại chăn nuôi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu thực tế hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển, Quản trị kinh doanh nông nghiệp, Phát triển nông thôn tham khảo về phương pháp luận hạch toán chi phí sản xuất, trích khấu hao tài sản cố định và phân tích nguồn lực kinh tế trang trại.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông viên cấp cơ sở sử dụng làm tư liệu thực chứng để xây dựng báo cáo quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, triển khai các chính sách hỗ trợ tín dụng và chuyển giao công nghệ làm mát, xử lý chất thải Biogas.
  • Chủ các trang trại chăn nuôi lợn tham khảo các định mức kinh tế - kỹ thuật thực tế (lượng cám 9 bao/con qua 3 giai đoạn, chi phí thú y 135.000 đ/con, tỷ lệ hao hụt 2%, chi phí điện vận hành giàn mát) để lập dự toán và quản trị chi phí chăn nuôi hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô đàn lợn và diện tích chuồng trại của trang trại ông Nguyễn Văn Bắc được bố trí như thế nào?
Trang trại được xây dựng trên tổng diện tích 2,8 ha đất nông nghiệp chuyển đổi. Khu chuồng nuôi lợn thịt chiếm diện tích 3.000 m², gồm 3 dãy chuồng đơn kiên cố với công suất 600 con/chuồng, đạt tổng quy mô 1.800 con lợn thịt/lứa (nuôi 2 lứa/năm, tổng xuất chuồng đạt 3.600 con/năm).

2. Tổng vốn đầu tư ban đầu của trang trại là bao nhiêu và cơ cấu vốn ra sao?
Tổng vốn đầu tư ban đầu của trang trại là 7 tỷ đồng. Trong đó, vốn tự có của chủ trang trại là 5 tỷ đồng (chiếm 71,42%) và vốn vay từ Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Phong là 2 tỷ đồng (chiếm 28,58%).

3. Định mức tiêu thụ thức ăn và chi phí cám cho một con lợn từ khi nhập chuồng đến khi xuất bán là bao nhiêu?
Mỗi con lợn nuôi từ 7 kg đến khi xuất chuồng (105 – 110 kg) tiêu thụ hết 9 bao cám (loại 25 kg/bao, đơn giá 250.000 đồng/bao), chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (7 – 20 kg) ăn 1 bao (250.000 đ); Giai đoạn 2 (20 – 60 kg) ăn 4 bao (1.000.000 đ); Giai đoạn 3 (60 – 110 kg) ăn 4 bao (1.000.000 đ). Tổng chi phí cám cho 1 con lợn là 2.250.000 đồng (tổng chi phí cám cho cả đàn 1.800 con trong 1 lứa là 4,05 tỷ đồng).

4. Lợi nhuận thuần hàng năm của trang trại đạt được trong giai đoạn 2015 – 2016 là bao nhiêu?
Năm 2015, trang trại đạt lợi nhuận thuần là 971.375.340 đồng. Năm 2016, lợi nhuận thuần đạt 802.670.000 đồng (giảm do biến động giá bán thịt lợn hơi trên thị trường).

5. Cơ sở áp dụng trích khấu hao tài sản cố định của trang trại dựa trên văn bản nào?
Trang trại áp dụng phương pháp trích khấu hao tài sản cố định theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 của Bộ Tài chính, với khung thời gian trích khấu hao chuồng trại chăn nuôi là 15 năm, phân bổ đều theo số lứa nuôi thực tế trong năm (2 lứa/năm).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Bích Hồng đã phản ánh toàn diện thực trạng tổ chức sản xuất và công tác hạch toán kinh tế tại trang trại chăn nuôi lợn thương phẩm quy mô 1.800 con của ông Nguyễn Văn Bắc tại xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả vượt trội của mô hình kinh tế trang trại tập trung thông qua các chỉ số lợi nhuận đạt từ 802 đến 971 triệu đồng/năm, đồng thời giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp địa phương. Các số liệu hạch toán chi tiết về chi phí đầu tư, con giống, thức ăn và tài sản cố định trong khóa luận mang giá trị thực tiễn cao cho công tác quản trị trang trại và hoạch định chính sách phát triển chăn nuôi bền vững.