CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM 1. Khái niệm, phân loại chức năng tố tụng hình sự 1. Khái niệm chức năng tố tụng hình sự Qua tìm hiểu của tác giả, tại Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn có cách hiểu thống nhất về khái niệm “chức năng TTHS”. Xuất phát từ góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm chức năng TTHS khác nhau.
Có thể kể ra một vài quan điểm như: Tác giả Lê Tiến Châu cho rằng, chức năng TTHS cần được hiểu là “một dạng chức năng nhà nước, là những định hướng lớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau trong những phạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với mục đích, quyền và nghĩa vụ tố tụng của các bên tố tụng”2. Cách hiểu này có nguồn gốc từ lý luận về chức năng cơ bản của nhà nước. Chức năng Nhà nước, theo giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa, “là những phương diện hoạt động chủ yếu của Nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước Nhà nước”3. Như vậy, chức năng TTHS được coi là một dạng hoạt động của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước, nhằm thực hiện đồng bộ những nhiệm vụ có mục đích, nhằm đảm bảo quyền, nghĩa vụ các bên trong TTHS.
Căn cứ vào hình thức hoạt động, Nhà nước thực hiện ba (03) chức năng cơ bản: Lập pháp, hành pháp, tư pháp. Chức năng TTHS thuộc nhánh chức năng tư pháp. Chức năng tư pháp bao gồm: Giám sát việc tuân theo pháp luật, được giao cho hệ thống VKS nhân dân – VKS quân sự; Tài phán (xét xử), được giao cho hệ thống Tòa án nhân dân – Tòa án quân sự; Bảo vệ pháp luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, được bảo đảm thông qua việc buộc tội của các cơ quan, người có thẩm quyền nhằm trừng phạt người, pháp nhân phạm tội, răn đe chung, giữ vững tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ công lý, sự an toàn, trật tự xã hội. Theo quan điểm của riêng tác giả, khái niệm này chưa thật sự toàn diện, vì các chủ thể thực hiện chức năng TTHS không phải lúc nào cũng có quyền lực Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước.
2 Lê Tiến Châu (2001), Các chức năng tố tụng cơ bản trong TTHS, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB. Công an nhân dân, tr. 7 Ở góc độ xem xét mối quan hệ nội tại giữa các chức năng TTHS, tác giả Nguyễn Thái Phúc nêu quan điểm về chức năng TTHS “là những phương diện (hay những dạng) hoạt động của TTHS do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) khác nhau thực hiện theo quy định của BLTTHS với nội dung, định hướng độc lập với nhau nhưng lại gắn kết với nhau một cách hữu cơ nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS”4.
Qua khái niệm này, chức năng TTHS có các đặc điểm sau: Là những phương diện của hoạt động TTHS; do nhiều chủ thể (nhóm chủ thể) khác nhau thực hiện; có mối quan hệ gắn kết hữu cơ chặt chẽ với nhau; mục tiêu thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS. Khái niệm này có mối liên hệ khá chặt chẽ, bao quát các quy định của BLTTHS, khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện chức năng TTHS được thể hiện rõ ràng, có vai trò đối ứng với nhau, bổ khuyết cho nhau, cùng hướng đến nhiệm vụ chung của TTHS Việt Nam là phát hiện kịp thời, nhanh chóng tội phạm và người phạm tội, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, vụ việc có dấu hiệu hình sự, “không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”. Hạn chế của khái niệm này là chưa thể hiện được vấn đề một nhóm chủ thể có thể thực hiện một lúc nhiều chức năng TTHS, trong các giai đoạn khác nhau. Theo tác giả Đinh Thị Mai, “chức năng TTHS là những hoạt động mang tính định hướng cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau, trong những phạm vi nhất định, trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng” 5.
Tác giả Mai tiếp cận TTHS dưới góc độ là hệ thống các hoạt động. Các hoạt động của các chủ thể khác nhau phải mang tính định hướng cơ bản, được phân định bằng các “ranh giới” và có nội dung, mục đích, quyền, nghĩa vụ rõ ràng mới được gọi là chức năng. Tuy nhiên, các hoạt động trong TTHS luôn có mối liên hệ lẫn nhau, nhằm hướng tới mục tiêu chung như đã đề cập. Nên cách định nghĩa này có phần tách biệt hẳn các chức năng TTHS, chưa phản ánh được mối quan hệ lẫn nhau.
Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng, chức năng TTHS là những định hướng do các nhà làm luật đề ra, buộc các chủ thể có thẩm quyền và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác thực hiện. Hay chức năng TTHS là những phương hướng hoạt động giới hạn trong việc giải quyết vụ án hình sự. Các quan điểm này đều quá phiến diện, 4 Nguyễn Thái Phúc (2015), Chức năng của TTHS và vấn đề hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam hiện nay”, tham luận hội thảo khoa học “Các chức năng của TTHS trong bối cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 5 Đinh Thị Mai, “Sinh hoạt khoa học Lý luận cơ bản về các chức năng của TTHS”, http://gass.vn/SitePages/ News_Detail.aspx?categoryId=162&itemId=38266 (truy cập ngày 12/02/2019).
8 góc độ tiếp cận quá hẹp, không thể hiện được đúng bản chất, vai trò, mối liên hệ và phạm vi các chức năng TTHS. Từ những phân tích trên, tác giả thuộc nhóm ủng hộ quan điểm của tác giả Nguyễn Thái Phúc. Ngoài ra, một định nghĩa có lẽ nên thể hiện phổ quát, dễ hiểu và giải quyết được phần nào sự đa vai trò của các chủ thể thực hiện các chức năng TTHS trong các giai đoạn khác nhau. Vì vậy, theo tác giả, chúng ta có thể sửa đổi, bổ sung vào khái niệm của tác giả Nguyễn Thái Phúc như sau: Chức năng TTHS là những phương diện (hay những dạng) hoạt động của TTHS, do các chủ thể (hoặc nhóm chủ thể) thực hiện theo quy định của BLTTHS với nội dung, định hướng vừa độc lập, vừa hỗ trợ nhau, nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS; trong đó, mỗi nhóm chủ thể có thể thực hiện cùng lúc nhiều chức năng TTHS.
Phân loại chức năng tố tụng hình sự Trong khoa học TTHS có rất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại chức năng TTHS, nhưng có thể chia thành hai nhóm lớn: - Nhóm thứ nhất là nhóm quan điểm truyền thống, chia chức năng TTHS thành ba loại cơ bản: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử vụ án hình sự6. Ba loại chức năng này được đông đảo các nhà nghiên cứu thừa nhận và mang tính phổ quát, đặc trưng mỗi khi nhắc đến TTHS nói chung. Về chức năng buộc tội, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cách hiểu, bao gồm7: Quan điểm thứ nhất, khá phổ biến tại các nước theo hệ thống án lệ, cho rằng, buộc tội là “việc ghép cho ai một việc bị luật hình sự trừng phạt” hoặc “buộc tội là luận tội”. Với quan điểm này, chức năng buộc tội chỉ thật sự bắt đầu xuất hiện từ phiên tòa xét xử.
Các hoạt động thực hiện trước khi phiên tòa đầu tiên được mở chỉ được xem như sự chuẩn bị cho cuộc tranh luận tại pháp đình. Như vậy, phạm vi chức năng buộc tội đã bị thu hẹp rất nhiều. Cách hiểu này nếu đặt trong mối quan hệ đối ứng, tương hỗ với chức năng bào chữa, sẽ tạo nên nhiều sự hạn chế trong các hoạt động tố tụng. Ngoài ra, đối tượng bị buộc tội không chỉ có cá nhân (ai) mà còn có thể là pháp nhân (các tổ chức, doanh nghiệp…).
Do đó, cách hiểu này thật sự chưa phù hợp cả về mặt lý luận lẫn thực tế. 6 Tác giả sử dụng thuật ngữ “chức năng xét xử vụ án hình sự” để phân biệt với chức năng xét xử nói chung, bao gồm cả xét xử vụ án dân sự, hành chính, lao động… 7 Lê Tiến Châu (2001), tlđd (số 02), tr. 9 Quan điểm thứ hai, “buộc tội” là kết luận của VKS (cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước thực hành quyền công tố) tại phiên tòa về hành vi phạm tội của bị cáo, dựa trên cơ sở phân tích các chứng cứ, vận dụng các điều, khoản của pháp luật. Quan điểm này tuy có phần giống như quan điểm trên – thu hẹp phạm vi, nhưng đã chỉ ra được phần nào nội hàm của chức năng buộc tội.
Theo đó, buộc tội là quá trình dùng các chứng cứ để chứng minh một (một nhóm) đối tượng đã phạm vào một (một số) điều mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm. Quan điểm thứ ba, chức năng buộc tội là hoạt động của VKS nhằm xác định tội phạm và người phạm tội, buộc kẻ phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Quan điểm này cũng vẫn chưa phản ánh đầy đủ về chức năng buộc tội. Bởi vì, chủ thể thực hiện chức năng này không chỉ có VKS.
Trong nhóm các cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, thậm chí là Tòa án cũng có thể thực hiện chức năng buộc tội. Việc hệ thống Tòa án nhân dân – Tòa án quân sự của Việt Nam có thực hiện chức năng buộc tội hay không vẫn còn là một vấn đề đang gặp nhiều tranh cãi. Có quan điểm cho rằng, Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử, không thực hiện chức năng buộc tội và bào chữa. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, Khoản 4 Điều 153 BLTTHS quy định cho Tòa án quyền khởi tố vụ án hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự (nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm) là biểu hiện của chức năng buộc tội.
Ngoài ra, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác (như bị hại, người – cơ quan – tổ chức tố giác tội phạm.) cũng có thể thực hiện chức năng buộc tội.