chương 1, chúng tôi thực hiện đánh giá kết quả chuân hóa hoạt động văn phòng tại TTHTSV theo tiêu chí đánh giá, nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế về công tác chuẩn hóa hoạt động văn phòng của TTHTSV. Giải pháp chuẩn hóa hoạt động văn phòng tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên - ĐHQGHN Trên cơ sở tông kết thực trạng ở chương 2, trong chương nay chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm tiếp tục chuẩn hoá hoạt động văn phòng tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên, trong đó nhắn mạnh vấn đề cải tiến một số quy định hoặc quy trình đang thực hiện tại Trung tâm Hỗ trợ sinh viên. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHUAN HOA HOẠT ĐỘNG VĂN PHÒNG Dé làm rõ một số van dé lý luận về chuẩn hóa hoạt động văn phòng, chúng tôi đã tham khảo các công trình nghiên cứu trước đó và đặc biệt là nội dung một số bài giảng cao học ngành Quản tri văn phong. Những khái niệm cơ bản được sử dụng trong luận văn 1.
Văn phòng và hoạt động văn phòng a) Văn phòng Hiện nay, qua khảo sát các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi thấy khái niệm “văn phòng” đang được hiểu và giải thích theo nhiều cách khác nhau. Trong bài viết năm 2005, từ góc độ nghiên cứu về khoa học tô chức, PGS.TS Nguyễn Hữu Tri cho rằng, có thé xác định cách hiểu từ “văn phòng” theo hai nghĩa sau’: - Văn phòng theo nghĩa rộng (Văn phòng toàn bộ) bao gồm toàn bộ bộ máy quản lý của đơn vị từ cao cấp đến cơ sở với các nhân sự làm quản trị cho hệ thống quản lý nói riêng. Văn phòng toàn bộ có đầy đủ tư cách pháp nhân trong hoạt động đối nội, đối ngoại dé thực hiện mục tiêu chung của tô chức. - Văn phòng theo nghĩa hẹp (Văn phòng chức năng) chỉ bao gồm bộ máy trợ giúp nha quản tri những việc trong chức năng được giao; là một bộ phận cầu thành trong cơ cau tổ chức, chịu sự điều hành của nhà quan tri cap cao.
Van phòng chức nang không phải là một pháp nhân độc lập trong các quan hệ đôi ngoại. 3 Đề làm rõ các van dé lý luận về chuẩn hóa hoạt động văn phòng, ngoài các giáo trình về quản trị văn phòng đã được xuât ban ở Việt Nam, chúng tôi đã tham khảo và vận dụng nội dung bài giảng thuộc hai học phân: 1/ Lý luận và lý thuyết về quản trị văn phòng: 2l Tô chức khoa học hoạt động văn phòng của PGS.TS Vũ Thi Phụng (Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - DHQGHN) - Tài liệu lưu hành nội bộ. l * Nguyễn Hữu Tri (2005): Mét số nhận thức về văn phòng, quan trị văn phòng và đào tạo nhân lực quản trị văn phòng trong tương lai. In trong Ky yếu hội thảo Quản trị văn phòng - Lý luận và thực tiễn.
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr15. 16 Theo Nguyễn Thành Độ và Cộng sự (2012), văn phòng (nghĩa rộng) là bộ máy làm việc tổng hợp và trực tiếp trợ giúp cho việc điều hành của ban lãnh đạo một cơ quan, đơn vị. Ở các cơ quan thâm quyền chung, có quy mô lớn thì thành lập văn phòng như Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Tổng công ty. còn ở các cơ quan đơn vị có quy mô nhỏ thì Văn phòng thường là phòng Hành chính tông hợp.
Theo nghĩa hẹp, văn phòng là trụ sở làm việc của một cơ quan, don vi, là dia điểm giao tiếp đối nối và đối ngoại của cơ quan don vi đó.TS Vũ Thị Phụng (2010)° Văn phòng là một đơn vi hoặc bộ phận trong cơ cau tổ chức của các cơ quan, doanh nghiệp có chức năng tham mưu, thông tin tổng hợp, hậu cần. Tuy theo quy mô và phạm vi hoạt động, bộ phận này ở các cơ quan, doanh nghiệp có thé gọi là: Văn phòng hoặc phòng Hành chính/ Phòng Hành chính - Tổng hợp. Vai trò chủ yếu của bộ phận nay là quan lý, tổng hợp thông tin và tham mưu cho lãnh đạo các biện pháp dé tô chức, quản lý, điều hành hoạt động chung, đồng thời kiểm soát thủ tục hành chính, bảo đảm các điều kiện cần thiết như cơ sở vật chất, phương tiện và điều kiện làm việc cho cơ quan, doanh nghiệp. Trên cơ sở tham khảo định nghĩa của PGS.TS Vũ Thị Phụng và cách giải thích khái niệm “Van phòng” theo nghĩa hẹp của các tác giả Nguyễn Hữu Tri và Nguyễn Thanh Độ ở trên, dé phù hop với phạm vi nghiên cứu của đề tai trong luận văn nay, chúng tôi sử dụng khái niệm “Van phòng” theo cách hiểu sau: Văn phòng là bộ phận có chức năng tham mưu tổng hợp, quản lý và cung cấp thông tin văn bản cho hoạt động quản lý, điều hành; đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện và điều kiện làm việc cho cơ quan, doanh nghiệp.TS Vũ Thị Phụng: Quản trị văn phòng doanh nghiệp- Một linh vực cần được đầy mạnh nghiên cứu và dao tạo ở Việt Nam.
Kỷ yêu Hội khoa học quốc gia Đổi mới hoạt động khoa học và công nghệ dé nâng cao chat lượng đào tạo nguồn nhân lực về kinh tế - quản trị kinh doanh trong các trường đại học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. 5 Phùng Thị Phương Liên: “Chuẩn hóa hoạt động văn phòng tại Hội sở Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam” - luận văn thạc sỹ ngành Quan trị văn phòng(Tư liệu Khoa Lưu trữ học và Quan trị văn phòng, Trưởng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN 17 b) Hoạt động văn phòng Hoạt động là từ để chỉ các công việc, nhiệm vụ được một hoặc nhiều người, một hoặc nhiều bộ phận triển khai, thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu nhất định. Trên cơ sở khái niệm “Văn phòng” đã trình bay ở phan trên. Trong luận văn này thuật ngữ “hoạt động văn phòng” được hiểu như sau: Hoạt động văn phòng là những công việc, nhiệm vụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của bộ phận văn phòng, do bộ phận văn phòng triển khai, thực hiện, nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo nguồn thông tin văn bản và các phương tiện, điều kiện làm việc tốt nhất cho cơ quan, tô chức và doanh nghiệp.
Với cách hiểu trên, căn cứ vào hệ thống lý luận về Quản trị văn phòng đã được học, chúng tôi xác định các hoạt động sau đây thuộc hoạt động văn phòng: 1/ Quản lý hệ thống văn ban 2/ Quản lý các hồ sơ, minh chứng 3/ Công tác lễ tân 4/ Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện, điều kiện làm việc 5/ Xây dựng cảnh quan, môi trường làm việc 1. Chuẩn hóa Hiểu đơn giản, chuẩn hóa là một hoạt động thiết lập các điều khoản, qui định để sử dụng chung và lặp lại nhiều lần trong từng lĩnh vực nhằm đơn giản và thống nhất hóa để tạo thuận lợi cho các hoạt động liên quan. Theo Ti điển Hán - Việt của Trần Văn Chánh”, “chuẩn” là căn cứ, mẫu mực; “hóa” là biến đôi, thay đôi, hướng tới. 7 Trần Văn Chánh: Từ điển Hán Việt, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, năm 1999 (dẫn theo https: hvdic.net/hv) ® Dẫn theo: https: hvdic.net/hv 18 Theo Dai tw điển Tiiéng Việt °, chuẩn hóa là xác lập chuẩn mực.
Trong đó, chuẩn mực được hiểu là cái được chọn làm căn cứ dé đối chiếu, để làm mẫu. Từ những định nghĩa trên, trong luận văn này, nội hàm của thuật ngữ “chuẩn hóa” được chúng tôi sử dụng bao gồm các van dé sau’: - Tạo ra (xây dựng, ban hành hoặc công bổ) các chuẩn mực; - Phé biến, hướng dẫn những chuẩn mực đó tới các đối tượng có liên quan; - Kiểm tra, giám sát và đánh giá, xử lý kết quả thực hiện theo các chuẩn mực đã được ban hành. Hiện nay, chuẩn mực được áp dụng trong các cơ quan, doanh nghiệp thường gồm ba mức độ: các quy chế, quy định, quy trình; tiêu chuẩn và quy chuẩn. - Quy chế, quy định, quy trình là những chuẩn mực nội bộ, do các cơ quan, tổ chức ban hành dé làm cơ sở cho việc thực hiện các công việc liên quan.
- Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn dé phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này (Luật tiêu chuẩn và quy chuan năm 2006). - Quy chuẩn là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ (Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn năm 2006). ? Nguyễn Như Ý: Dai tir điển Tiếng Việt NXB Văn hóa Thông tin, năm 1999 (dẫn theo https: hvdic.net/hv) ; !° Tham khảo thêm bai giảng cao học môn “Tổ chức khoa học hoạt động văn phòng” của PGS.TS Vũ Thi Phụng (Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn, ĐHQGHN) - Tài liệu lưu hành nội bộ 19 Tuy nhiên, việc chuẩn hóa ở mức độ tiêu chuẩn, quy chuẩn thường được áp dụng cho những lĩnh vực hoạt động có tính kỹ thuật, công nghệ. Trong lĩnh vực quản lý hành chính, do đặc thù riêng, nên nhiều chuẩn mực khó xây dựng thành tiêu chuẩn và quy chuẩn.
Vì vậy, trong luận văn này, chúng tôi chỉ xem xét việc chuẩn hóa ở mức độ một, bao gồm các quy chế, quy định, quy trình nghiệp vụ về hoạt động văn phòng do các cơ quan ban hành và áp dụng. Thông qua các quy chế, quy định, quy trình nghiệp vụ và kết quả thực hiện trong thực tẾ, chúng ta có thé đánh giá được tình hình và hiệu quả của việc chuẩn hóa hoạt động văn phòng ở các cơ quan, doanh nghiệp. Chuẩn hóa hoạt động văn phòng Từ cách hiểu các khái niệm cơ bản: văn phòng, hoạt động văn phòng, chuẩn hóa ở trên, trong luận văn này thuật ngữ “chuẩn hóa hoạt động văn phòng” được hiệu là “Các biện pháp của cơ quan, doanh nghiệp nhằm xây dựng, ban hành, phổ biến, hướng dan các quy chế, quy định, quy trình nghiệp vụ về hoạt động văn phòng, dong thời kiểm tra và xử lý kết quả thực hiện trên cơ sở các quy chế, quy định và quy trình nghiệp vụ dang còn hiệu lực”. Nội dung và quy trình chuẩn hóa hoạt động văn phòng 1.