Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Quan niệm duy vật lịch sử ra đời đã giúp cho nhận thức xã hội từ chỗ bị chi phối bởi quan điểm duy tâm được đặt trên cơ sở khoa học. Ăngghen cho rằng quan niệm duy vật về lịch sử là “một trong hai phát minh quan trọng của Mác”, bên cạnh học thuyết về giá trị thặng dư. Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay thế cho sự lộn xộn và sự tuỳ tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị; lý luận đó chỉ cho ta thấy rằng, do chỗ lực lượng sản xuất lớn lên, thì từ một hình thức tổ chức đời sống xã hội này, nảy ra và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xã hội khác, cao hơn; chẳng hạn, chủ nghĩa tư bản đã nảy sinh ra như thế nào từ chế độ phong kiến” [29, tr.
Vậy điều gì đã làm cho quan niệm duy vật lịch sử mang nội dung và ý nghĩa một cuộc cách mạng trong nhận thức xã hội, lịch sử? Như mọi người đều biết, trước khi triết học Mác ra đời triết học cổ điển Đức đã đạt được thành tựu lớn nhất là phép biện chứng. Nhưng vì dựa trên quan điểm duy tâm, nên phép biện chứng ấy không giải thích đúng đắn, khoa học sự phát triển xã hội loài người. Mác và Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng ấy và cải tạo nó trên cơ sở chủ nghĩa duy vật khoa học do hai ông sáng lập, vì thế quan niệm duy vật về lịch sử đã được sáng tạo ra. Cho nên, nguyên nhân lý luận cơ bản của cuộc cách mạng trong nhận thức xã hội chính là việc xác lập quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm cho rằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, sinh hoạt kinh tế là nền tảng của mọi sinh hoạt xã hội khác, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản sáng tạo ra lịch sử.
Chính quan điểm này làm thành bản chất của quan niệm duy vật lịch sử. Để hiểu rõ 14 z nội dung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trước hết, cần khảo cứu nó về mặt lịch sử. Quá trình Mác và Ăngghen xây dựng và phát triển quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử 1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết quả đầu tiên trong khi nghiên cứu đời sống xã hội mà Mác thu được khi phê phán triết học pháp quyền của Hêghen là khẳng định: “Trên thực tế, gia đình, xã hội công dân là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là những yếu tố thật sự tích cực”, “gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước.
Chúng chính là động lực” và “nhà nước chính trị không thể tồn tại nếu không có cơ sở tự nhiên gia đình và cơ sở nhân tạo là xã hội công dân” [33, tr. Nhận thức ấy của Mác là kết quả của việc lật ngược quan điểm của Hêghen khi ông ta cho rằng nhà nước và pháp quyền là cơ sở của gia đình và xã hội công dân. Vì thuật ngữ “xã hội công dân” (là thuật ngữ của triết học cũ) mặc dù chưa nói đầy đủ nội dung kinh tế nhưng nó chỉ lĩnh vực sinh hoạt của tầng lớp thị dân, những lợi ích tư nhân, cho nên có thể khẳng định đây là tư tưởng của Mác về vai trò quyết định của kinh tế đối với kiến trúc thượng tầng xã hội, một khía cạnh nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Sau tác phẩm trên, Mác tiếp tục đề xuất tư tưởng của ông về mối liên hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về vai trò của quần chúng nhân dân trong tác phẩm “Lời nói đầu” của “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” khi bàn về bản chất con người, về cách mạng xã hội, về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo.
Tư tưởng của Mác về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện rõ ở chỗ ông đòi hỏi phải hiểu bản chất con người một cách hiện thực, thấy rõ tầm quan trọng của bạo lực cách mạng và tìm nguồn gốc, bản chất tôn giáo trong đời sống hiện thực. 15 z Bước tiến quan trọng của Mác trong quá trình xây dựng quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử là khi ông viết “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, quan điểm nổi bật trong toàn bộ nội dung tác phẩm này chính là quan điểm của Mác về lao động khi ông nghiên cứu “lao động bị tha hoá” của người công nhân. Ở đây tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử đã được Mác vạch ra không chỉ ở quan niệm về nội dung, vai trò quyết định của lao động đối với sự hình thành, phát triển của xã hội loài người nói chung, mà còn ở chỗ, quan niệm về lao động là cơ sở cho việc đề xuất những tư tưởng khác như tư tưởng về con người, bản chất con người, tư tưởng về xã hội và về sự phát triển con người, xã hội. Như vậy, ở đây lần đầu tư tưởng cơ bản của quan niệm duy vật về lịch sử đã được trình bày trong mối liên hệ hữu cơ với những tư tưởng khác trong hệ thống của chúng.
Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh”, Mác và Ăngghen đã trình bày quan điểm của mình về lợi ích và về mối liên hệ giữa kinh tế và tư tưởng, giữa kinh tế và kiến trúc thượng tầng xã hội. Hai ông cho rằng: “một khi “tư tưởng” tách rời “lợi ích” thì nhất định nó sẽ tự làm nhục nó”, “tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng những lực lượng thực tiễn”. Và “ngày nay, chỉ có sự mê tín về chính trị mới còn cho rằng nhà nước phải củng cố đời sống thị dân, trong khi thực ra thì trái lại, chính là đời sống thị dân củng cố nhà nước” [35, tr.
Việc bàn về lợi ích, tức là ích kinh tế, lợi ích vật chất đã làm nổi bật khía cạnh nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, ở đây là về vai trò quyết định của kinh tế đối với tư tưởng, với nhà nước chính trị. Đồng thời cũng trong tác phầm này, Mác và Ăngghen bổ sung thêm nội dung của quan điểm về quần chúng nhân dân, đó là về vai trò ngày càng tăng của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Việc xác định rõ hơn nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử còn được thể hiện trong “Luận cương về Phoiơbắc” của Mác. Ở 16 z đây nội dung và ý nghĩa của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử được chỉ ra khi Mác nói về bản chất con người, về vị trí của thực tiễn trong đời sống xã hội và khi ông vạch ra bản chất duy tâm của quan điểm Phoiơbắc về xã hội.
Trong luận cương 8 Mác viết: “Đời sống xã hội, về thực chất là có tính chất thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [36, tr. Luận điểm này của Mác đã chỉ rõ thực tiễn mà trước hết là hoạt động sản xuất vật chất của con người, chính là bản chất (thực chất) của đời sống xã hội, cái bản chất ấy quy định những sinh hoạt khác của xã hội như những sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, chủ nghĩa thần bí; do đó, về mặt phương pháp luận, chỉ có thể giải thích được một cách hợp lý, chính xác những “sự thần bí”, “chủ nghĩa thần bí” khi xuất phát từ thực tiễn, từ việc hiểu thực tiễn. Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm cơ bản của nó đã được thể hiện một cách chính diện và rõ ràng trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”.
Trước hết, đó là việc xác lập quan điểm về mối liên hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Trong “Hệ tư tưởng Đức” quan niệm của Mác và Ăngghen về tồn tại xã hội, về quá trình đời sống hiện thực của con người trước hết được hiểu là sự sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp, tức là quá trình sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho sự tồn tại thể xác của con người, còn quan niệm của hai ông về ý thức được hiểu là về ý thức xã hội nói chung. Đây là hai luận điểm tiêu biểu của Mác và Ăngghen về mối liên hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Hai ông viết: “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” [37, tr.
Và “không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [37, tr. Quan điểm chung thể hiện trong các luận điểm trên chính là về sự quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội. 17 z Khi đi sâu phân tích cấu trúc xã hội, Mác và Ăngghen đã vạch rõ hơn nội dung của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cụ thể là, hai ông đã chỉ ra vai trò quyết định của “quan hệ giao tiếp”, của phương thức sản xuất, của “xã hội công dân”, rộng ra là của toàn bộ nền sản xuất vật chất xã hội đối với các lĩnh vực sinh hoạt xã hội khác nhau, như đối với sản xuất tinh thần, đối với cơ cấu xã hội, nhất là cơ cấu giai cấp, đối với nhà nước và kiến trúc thượng tầng xã hội.
Với việc hiểu “xã hội công dân” là lĩnh vực “bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn nhất định của lực lượng sản xuất. Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó…” [37, tr.52], Mác và Ăngghen coi “xã hội công dân là trung tâm thực sự, vũ đài thực sự của lịch sử” [37, tr. Mác và Ăngghen tiếp tục thể hiện khía cạnh này của quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử khi trình bày lý luận về phát triển lịch sử.