chương I của luận văn sẽ trình bày về những khái niệm cơ bản về vận động hành lang, về nhóm lợi ích. Đề hiểu rõ thêm về những khái niệm này việc tìm hiểu về lich sử hình thành, các nhân tố tác động đến vận động hành lang và nhóm lợi ích, cũng như thực trạng các vấn đề này ở Mỹ cũng được đề cập đến. Nhận thức chung về nhóm lợi ích và vận động hành lang 1. Khái niệm vận động hành lang Vận động hành lang (lobby) theo tiếng Anh, là hành lang rộng tại nhà Quốc hội, là nơi chờ đợi trong tiền sảnh của các khách sạn hay toà nhà lớn.
Trong chính tri học, lobby được sử dụng với ý nghĩa là “vận động người có chức, có quyền nhằm đạt được mục đích về kinh tế, chính trị, xã hội.441] Người ta sử dụng từ “lobby” cho hoạt động vận động hành lang vì đây là địa điểm mà hoạt động này diễn ra đầu tiên trong lịch sử, đó là hành lang của Nghị viện Anh quốc, nơi mà trong thời gian nghỉ giải lao, các nghị sĩ thường trao đôi với đồng nghiệp hoặc với bất kỳ người nào dé bổ sung thông tin về vấn đề đang được thảo luận hoặc quyết định tại Nghị l] [ tr.1, Từ khi ra đời dén nay, khái niệm vận động hành lang chung nhât, chính xác nhât vẫn chưa được xác nhận. Vì vậy, trên thê giới có rât nhiêu cách định nghĩa vận động hành lang. Vận động hành lang là thuyết phục người được vận động ban hành chính sách theo ý muốn của người vận động. Van dé cần vận động có thê là một dự luật hoặc đơn giản chỉ để yêu cầu nghị sĩ tiếp xúc thường xuyên 14 hơn với một nhóm cử tri nào đó.
Nói một cách khái quát thì vận động hành lang là đưa ra chính kiên của một nhóm lợi ích đôi với một chính sách của Nhà nước và tác động đê biên đôi chính sách đó theo nhu câu của nhóm lợi ích.[23] Định nghĩa lâu đời nhất về vận động hành lang được cho là của Milbrath, theo Milbrath “vận động hành lang thực chat là một tiến trình trao đổi thông tin. Vì thông tin là cách thức duy nhất dé gây ảnh hưởng hoặc làm thay đôi một nhận thức.2] Theo Ann Sullivan, chuyên viên vận động hành lang ở Washington, vận động hàng lang là vận động giùm cho người khác về một vấn đề mà người đó không hiểu rõ đường đi nước bước, họ không biết phải vận động như thế nào, vận động ai để đề đạt được ý nguyện của họ lên cơ quan lập pháp.[64] Xét riêng về mặt luật pháp, khái niệm vận động hành lang cũng có những sự khác biệt. Theo luật Canada, vận động hành lang là một trong những hoạt động hợp pháp để tiếp cận với Quốc hội, các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương vi lợi ich của công chúng[1, tr. Theo luật pháp của bang Washington - Mỹ, thì vận động hành lang là “cố gắng ảnh hưởng đến việc thông qua hoặc bãi bỏ bất kỳ dự thảo luật nào của cơ quan lập pháp của bang Washington hay sự chấp nhận hoặc chối bỏ bất kỳ luật lệ, tiêu chuẩn, thuế địa phương hay văn bản của bất kỳ cơ quan chính quyền nao theo Đạo luật thủ tục hành chính nhà nước, chương 34.
Theo luật pháp Hoa Ky mà cụ thé là theo quy định của Đạo luật Công khai vận động hành lang, Bộ luật về Ngân sách Liên bang và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước ngoài, thì vận động hành lang được hiểu là các hoạt động tiêp xúc hoặc xúc tiên đê nhăm gây tac động, ảnh hưởng tới các quan 15 chức có thâm quyên, các hoạt động chuân bị và lên kê hoạch, nghiên cứu và các hoạt động hỗ trợ dé thực hiện một mục dich nào đó Trong bai tham luận tại Hội nghị Người Việt Nam ở nước ngoai lần 2, Michael Bui, Việt Kiều Mỹ, đã đưa ra những khái niệm khác nhau về vận động hành lang ở châu Âu, ở Mỹ và ở Việt Nam. Ở châu Âu, vận động hành lang được coi là hoạt động nhằm gây ảnh hưởng, tác động đến các quan chức, những người có thâm quyền; các hoạt động chuẩn bị lên kế hoạch, nghiên cứu và các hoạt động hỗ trợ dé thực hiện một mục đích nào đó. Người Mỹ thừa nhận vận động hành lang góp phần cải thiện quy trình ra quyết định một cách dân chủ của đất nước. Nhằm bảo đảm cho tat cả tiếng nói, các tranh luận đều được lắng nghe, giúp cho các ý nguyện của cử tri đến được với chính quyền một cách nhanh chóng va hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam, phần đông người đánh giá vận động hành lang: Là việc làm xấu, là cái gì đó lén lút, không công khai, phạm pháp, Là nghệ thuật đưa phong bi, là lợi dụng quan hệ trục lợi, chạy dự án, doanh nghiệp sân sau.[33] Khái niệm vận động hành lang tuy có nhiều sự khác biệt, nhưng tựu trung lại có thê hiểu vận động hành lang là những hoạt động có tính hệ thống nhằm tiếp cận, thuyết phục, gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình ra quyết định của cơ quan lập pháp, hành pháp, các nghị sĩ, quan chức và những người có thâm quyền khác trong bộ máy nhà nước để họ ủng hộ hoặc không ủng hộ chính sách, dự luật, chương trình, kế hoạch, hợp đồng, chứng chi, sự đề cử, bố nhiệm hoặc một vấn dé nào đó vi lợi ích của cộng đồng, các nhóm lợi ích hoặc của cá nhân.6] Như vậy có thể thấy rõ rằng vận động hành lang là hoạt động vì lợi ích của một ca nhân, của một nhóm, hay của cộng đồng nhăm anh hưởng lên sự ra đời hoặc hủy bỏ một quyết định từ cơ quan chức năng và những người có thâm quyền. Khái niệm nhóm lợi ích. Cũng giống như vận động hành lang, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất về nhóm loi ích. Trong từ điển tiếng Anh nhóm lợi ich(Interest group) được định nghĩa là “một nhóm người có cùng mỗi quan tâm hoạt động vì lợi ích chung”.[53] Cũng theo từ điển tiếng Anh thì Nhóm lợi ích chính tri(Political Interest groups) là “những nhóm tim cách gây anh hưởng lên quá trình lập pháp”.
Truman, một trong những học giả đầu tiên nghiên cứu về nhóm lợi ích thì “Các nhóm lợi ích, về cơ bản, là những nhóm dựa trên việc đưa ra một hoặc nhiều hơn một những lợi ích, quan điểm tương đồng để đạt được những quyên lợi vượt hơn những nhóm khác trong xã hội.135] theo như cách Truman định nghĩa thì nhóm lợi ích là một nhóm có vai trò chông lại nô lực của các nhóm khác. Tiếp tục tiếp thu và mở rộng tư tưởng của Truman, Robert Salisbury cho rằng: Nhóm lợi ích là các nhóm hình thành khi sự phân chia nguồn tải nguyên không thỏa đáng hoặc bị đe dọa. Theo Salisbury, người sáng lập nhóm sẽ đưa ra những lợi ích dé thu hút những thành viên gia nhập nhóm. Lợi ích có thé là vật chất hữu hình, là sự liên kết hay quyền phát biéu ý kiến.
Trong đó thành viên sẽ nhận được những lợi ích và người đứng đầu nhóm cũng nhận được những lợi ích tương tự. Như vậy dé đảm bảo việc tiếp tục tham gia của các thành viên thì mối quan hệ này phải dựa trên vấn đề lợi ích. Hay nói tóm lại, sự hình thành, phát triển hay mất đi của các nhóm lợi ich dua vào sự trao đổi lợi ích giữa các thành viên. Trong đó vai trò của người đứng đầu nhóm là quan trọng hơn cả.[ 14] Với Mancur Lloyd Olson, một nhà kinh tế học và một nhà khoa học xã hội người Mỹ thì “nhóm lợi ích là một tổ chức hay thể chế đưa ra những đòi hỏi chính sách đối với chính phủ”[50, p.49] 17 Hiểu một cách đơn giản nhất thì các nhóm lợi ích là các phe phái chính tri, tập hợp lại với nhau vì một mục đích chung nào đó.I 13] Như vậy, nhóm lợi ích là một nhóm những người có chung một mối quan tâm, cùng hành động dé đạt được phan ưu thé hơn những nhóm khác bằng cách tác động lên quá trình lập pháp.
Hoàn cảnh ra đời của động hành lang và các nhân tố đưa đến sự ra đời của vận động hành lang Lịch sử của vận động hành lang bắt nguồn từ những hoạt động của Nghị viện Anh quốc. Nước Anh có cơ chế hai viện là viện nguyên lão (thượng viện) va viện dân biểu (hạ viện). Thượng viện chủ yêu đại diện cho quyền lợi của các lãnh chúa, rất gắn bó với quyền lợi của Hoàng gia và hưởng tước lộc từ Hoàng gia, do đó đại đa số nhân dân ít được tiếp cận với họ. Hạ viện với nguyên nghĩa là Nghị viện của "thường dân" do Thành viên của Viện này được nhân dân trực tiếp bầu ra và việc tái cử hay không là tùy thuộc vào sự tin cậy của cử tri.
Vi vậy, họ luôn coi trọng sự ủng hộ của cử tri và giữ mối liên hệ chặt chẽ với cử tri. Mỗi lần đến dự các kỳ họp, các vị dân biểu thường dành thời gian đọc tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp tại phòng chờ hoặc hành lang của Nghị Viện. Theo quy định của pháp luật về Nghị viện thì công dân cũng được phép có mặt tại hành lang của tòa nhà Nghị viện để trình bày ý kiến, kiến nghị với các vị đại biểu của mình. Chính vi vậy, cử tri hoặc người đại diện cho họ thường đến khu hành lang này để gặp gỡ, bay tỏ quan điểm nhằm cung cấp thông tin, thuyết phục nghị sĩ bỏ phiếu ủng hộ hoặc không ủng hộ những vấn dé, chính sách hoặc dự luật sẽ hoặc đang được bản thảo tại Nghị viện.
Từ đó, vận động hành lang đã ra đời. Vận động hành lang ra đời tại Anh nhưng phát triển mạnh mẽ nhất ở Mỹ bởi đặc tính xã hội Mỹ và Hệ thống chính trị Mỹ rất thuận lợi cho hoạt động này. Cũng có thê nói, người Mỹ đã kế thừa và phát huy những thành quả của hoạt động vận động hành lang từ Anh. Vì về cơ bản, Mỹ và Anh có nhiều đặc điểm chung.
Đầu tiên, cả Mỹ về Anh đều 18 thuộc nền văn hóa Anglo-Saxon. Thứ hai, Hoa Kỳ đã từng là thuộc địa của Anh. Anh và Mỹ có cùng ngôn ngữ. Chính những yếu tố nay đã góp phan quan trọng cho người Mỹ kế thừa và phát triển của hoạt động vận động hành lang từ người Anh.
Thêm vào đó, “Hệ thống chính trị Mỹ đặc biệt mở rộng đối với ảnh hưởng của những nhóm áp lực”[3, tr.420], mà “hoạt động vận động hành lang lại gắn liền với các nhóm lợi ích”[5, tr.