lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thất thu thuế XNK và chống thất thu thuế qua mã số hàng hóa xuất nhập khẩu Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 : Thực trạng chống thất thu thuế qua mã số hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Hà Giang Chƣơng 4: Một số định hƣớng và đề xuất giải pháp hiệu quả về chống thất thu thuế qua mã số hàng hóa XNK tại Cục Hải quan Hà Giang.giang 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giang Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẤT THU THUẾ XNK VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ QUA ÁP MÃ SỐ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1. Cơ sở lý luận về thất thu thuế xuất nhập khẩu 1. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu - Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nƣớc, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nƣớc ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp thuế. Thuế đƣợc định ra gắn liền với phạm trù Nhà nƣớc và pháp luật.
- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gián thu, thu vào các mặt hàng đƣợc phép xuất, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam. Đối tƣợng chịu thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu theo quy định tại Điều 2 trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 và đƣợc chi tiết tại Điều 1 Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010. - Thuế xuất nhập khẩu có những vai trò nhƣ sau: +) Thuế XNK tăng thu cho ngân sách nhà nƣớc: Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Nhà nƣớc huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nƣớc thông qua thu thuế xuất nhập khẩu, góp phần đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ.
Khoản thu thuế XNK mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này cũng gia tăng. Đối với nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, nguồn thu từ thuế XNK chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngân sách nhà nƣớc. +) Thuế XNK là công cụ quan trọng để nhà nƣớc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, định hƣớng tiêu dùng, khuyến khích sản xuất – đầu tƣ xuất khẩu. Thuế đƣợc thu đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là công cụ quan (LUAN.giang 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giang trọng trong chính sách tài chính tiền tệ do vậy khi Nhà nƣớc cần thực hiện điều tiết hoạt động XNK, bảo vệ sản xuất và định hƣớng tiêu dùng trong nƣớc.
Nhà nƣớc quy định mức thuế cao hay thấp sẽ tác động hạn chế hoặc khuyến khích tiêu dùng đối với hàng hóa nhập khẩu. Nếu tăng mức thuế NK thì giá cả hàng hóa nhập tăng cao, sẽ tác động làm giảm tiêu dùng trong nƣớc đối với hàng nhập khẩu, dẫn đến hạn chế nhập khẩu, hàng hóa trong nƣớc có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn; hoặc khi Nhà nƣớc quy định áp mức thuế suất thấp đối với nguyên liệu đầu vào nhập khẩu, các nhà sản xuất trong nƣớc có điều kiện giảm chí phí nguyên liệu nên giảm giá bán hàng. Nhƣ vậy, thuế XNK có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nƣớc, nhất là những ngành non trẻ. +) Thuế XK, thuế NK góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội, góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nƣớc và tạo điều kiện mở cửa nền kinh tế.
Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân nên, góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội. Tham gia các hiệp định thƣơng mại song phƣơng và đa phƣơng, Việt Nam phải thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết, áp dụng mức thuế ƣu đãi trong quan hệ thƣơng mại với các nƣớc có thỏa thuận ký cam kết. Việc điều chỉnh thuế suất hàng hóa từng giai đoạn hoặc từng ngành hàng cũng là một biện pháp chủ động cùng với ban hành các chính sách kinh tế khác nhằm thực hiện mục tiêu quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, điều chỉnh cán cân thƣơng mại quốc tế, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, tạo ra môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng về pháp luật giữa các thành phần kinh tế phát triển trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế. Một số lí luận chung về thất thu thuế xuất nhập khẩu 1.
Khái niệm thất thu thuế xuất nhập khẩu Trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế và mở rộng hợp tác, Việt (LUAN.giang 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giang Nam đã có những chính sách điều chỉnh phù hợp, tạo thuận lợi khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tƣ kinh doanh XNK, góp tích cực khai thác có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế. Song song với kết quả mở rộng thu hút đầu tƣ, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, một thách thức lớn đối với nền kinh tế nƣớc ta là sự gia tăng ngày càng tinh vi các gian lận thuế vì không phải tất cả ngƣời nộp thuế đều tuân thủ chấp hành tốt quy định pháp luật của Nhà nƣớc. Một số chủ hàng và ngƣời nộp thuế đã dùng nhiều thủ đoạn để lợi dụng, gian lận thƣơng mại nhằm trục lợi, ăn gian tiền thuế phải nộp vào ngân sách Nhà nƣớc. Thuế xuất nhập khẩu mang tính mâu thuẫn lợi ích vì Nhà nƣớc sử dụng pháp luật về thuế để huy động thu vào ngân sách, phục vụ cho chi tiêu chính phủ, đầu tƣ xã hội….tăng thu cho ngân sách càng nhiều càng tốt, còn ngƣời nộp thuế càng giảm khoản phải nộp thì càng gia tăng nhiều lợi nhuận kinh doanh.
Thủ đoạn gian lận trong hoạt động kinh doanh hàng hoá XNK suy cho cùng là mục đích gian lận một phần hoặc toàn bộ tiền thuế phải nộp để trục lợi. Hiện tƣợng này gây nên thất thu thuế XNK cho Ngân sách Nhà nƣớc. Thất thu thuế xuất nhập khẩu chính là số lƣợng thuế không đƣợc nộp đúng vào ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Thấ t thu thuế là một hiện tƣợng thƣ̣ c tế khách quan phát sinh trong bấ t kỳ hệ thống thuế khoá nào , nó phản ánh hai mặt của một vấ n đề lơ ̣i ích mâu thuẫn giữa chủ thể nhà nƣớc và ngƣời nộp thuế.
Trên thƣ̣c tế , hai lơ ̣i ích này thƣờng mâu thuẫn với nhau do Nhà nƣớc luôn có khuynh hƣớng tăng nguồ n thu huy động cho ngân sách tƣ̀ thu thuế , trong khi ngƣời nộp thuế luôn mong muố n giảm số thuế phải nộp càng nhiề u càng tố t để gia tăng lợi nhuận. Nhƣ vậy, ở đâu có thuế thì ở đó có thất thu thuế xảy ra. Nhận định chung: Thất thu thuế xuất nhập khẩu được hiểu là một phần hoặc toàn bộ khoản tiền thuế thu vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật về thuế nhưng không (LUAN.giang 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giang được nộp đúng, đủ bởi các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Khoản thất thu thuế của ngân sách nhà nƣớc là khoản tiền thuế phải nộp bị chiếm đoạt bởi tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tƣợng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thông qua gian lận hoặc do không hiểu biết dẫn đến khai sai thủ tục, chứng từ, hồ sơ xuất nhập khẩu hàng hóa.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm thất thu thuế ta đặt giả thiết nhƣ sau: - E: gọi chung là hàng hóa xuất nhập khẩu - T: là tổng số thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp cho nhà nƣớc - TE: là số thuế xuất khẩu, nhập khẩu loại hàng hóa E phải nộp cho nhà nƣớc. - QE: là tổng số lƣợng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu loại E. - PE: là trị giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu loại E. - tE: thuế suất thuế xuất khẩu//nhập khẩu áp dụng cho một đơn vị hàng hóa loại E.
Ta có số thuế xuất khẩu, nhập khẩu loại hàng hóa E phải nộp cho nhà nƣớc là: TE= PE*QE*tE (1) và T= ∑TE (2) Giả thiết cho rằng T’ là tổng số thuế xuất khẩu, nhập khẩu thực tế thu vào ngân sách nhà nƣớc nghĩa là T’ < T, gọi k là khoản chênh lệch này thì k = T - T’ (3); Từ (1), (2), (3) suy ra k là số thất thu thuế. Vậy, Thất thu thuế XNK là khoản chênh lệch giữa số tiền thuế phải nộp vào ngân sách Nhà nƣớc đƣợc xác định lớn hơn so với số thực tế đã nộp. Đó chính là một phần hoặc toàn bộ khoản tiền thuế XNK bị tổ chức , cá nhân XNK hàng hóa chiếm dụng, nộp thiếu, do đó họ phải có nghĩa vụ nộp đủ , đúng theo quy đinh ̣ pháp luật về thuế XNK. Xét theo quan điểm quản lý nhà nƣớc về hải quan thì khoản thất thu (LUAN.giang 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.giang thuế XNK là khoản chênh lệch giữa số tiền thuế XNK phải nộp so với số tiền thuế đã khai và đã nộp vào ngân sách nhà nƣớc.
Đó là khoản tiền thuế xuất nhập khẩu còn nộp thiếu vào ngân sách nhà nƣớc. Thực tế có những quan điểm cho rằng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng nhƣ các chính sách thuế hầu nhƣ không tính đƣợc hết những khoản phát sinh về thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong nền kinh tế. Do vậy, số thất thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ bao gồm cả khoản thất thu thuế xuất nhập khẩu tiềm năng của nền kinh tế đáng lẽ còn phải đƣợc động viên nộp vào nguồn thu của ngân sách nhà nƣớc nhƣng lại không đƣợc huy động (Hoặc do nguyên nhân khác mà số tiề n đó chƣa đƣợc tập trung nộp đủ vào ngân sách nhà nƣớc ). Từ những luận cứ nêu trên khái niệm thất thu thuế XNK còn đƣợc nêu là bao gồm khoản tiền thuế không được nộp đúng đủ vào ngân sách nhà nước và những khoản thu đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cần thiết phải động viên vào ngân sách Nhà nước nhưng còn chưa được quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Phân loại thất thu thuế xuất nhập khẩu a) Phân loại theo nguyên nhân thất thu thuế gồm có thất thu do nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan.