Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN ĐỂ HẠN CHẾ CẠNH TRANH VỀ GIÁ I. VỊ TRÍ THỐNG LĨNH, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 1. Khái niệm Vị trí thống lĩnh thị trường Vị trí thống lĩnh thị trường được Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (United Nations Conference on Trade and Development - UNCTAD) dinh nghia la vi tri ma tai dé doanh nghiệp, tự thân hoặc thông qua uiệc phối hợp hành động uới cóc doanh nghiệp khác, có thể biểm soát được một loại hòng hóa hoặc dịch uụ hoặc nhóm, hang hoa, dich vu trên thị trường liên quan!. UNCTAD: Model Law on Competition, chapter 2, p.2, Definitions and scope of application.
15 Vị trí thống lĩnh thị trường được nhìn nhận từ khả năng khống chế thị trường của doanh nghiệp đó. Theo đó vị trí thống lĩnh thị trường liên quan đến súc mạnh binh tế củu một doanh nghiệp có khú năng ngăn chặn hữu hiệu cạnh tranh hiện có trên thị trường thông qua uiệc doanh nghiệp này có khỏủ năng hành xử trong phạm vi déc lap véi đối thủ cạnh tranh, khách hùng uà cuối cùng là người tiêu dung cua doanh nghiệp. “Trong vụ Akzo Chemle v Commission, Tòa án châu Âu thấy rằng có một giả định pháp lý về vị trí thống lĩnh thị trường nếu thị phần của doanh nghiệp vượt quá 50%”1. Vị trí độc quyền Doanh nghiệp độc quyển là doanh nghiệp duy nhất cung ứng hoặc thu mua hàng hóa trên thị trường.
Theo Điều 12 Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004, “doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan”. Dưới góc độ cạnh tranh, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và doanh nghiệp có vị trí độc quyển được gọi với tên chung là những doanh nghiệp có 1. Mutrap, VCCI: Hanh vi han chế cạnh tranh: Một số 0uụ uiệc điển hình của châu Âu, tr. 16 quyền lực thị trường (Dominant position of market power).
Các doanh nghiệp này có thể tăng giá hoặc giảm sản lượng sản phẩm của mình mà không chịu bất kỳ sự tổn thất về kinh tế nào bởi vì người tiêu dùng không thể mua ở nơi khác để đáp ứng cho nhu cầu của mình'. Tuy vậy, nhìn từ góc độ cạnh tranh, doanh nghiệp độc quyền và doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh vẫn có sự khác biệt nhất định. Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp nắm g1ữ một thị phần đáng kể trên thị trường liên quan, còn doanh nghiệp độc quyền là doanh nghiệp cung ứmg hoặc thu mua duy nhất trên thị trường. Trong điều kiện độc quyền, xuất phát từ chỗ doanh nghiệp này là nhà sản xuất/cung ứng duy nhất trên thị trường, việc định giá của doanh nghiệp không cần phải quan tâm đến phản ứng của thị trường.
Trong khi đó, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trong quá trình định giá sản phẩm vẫn phải cân nhắc đến phản ứng của đối thủ cạnh tranh. Các căn cứ xác định vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền Dù được miêu tả với những tên gọi khác nhau trong pháp luật cạnh tranh các nước, nhưng có 1. Mutrap, VCCI: Hành u¿ hạn chế cạnh tranh: Một số 0uụ uiệc điển hình của châu Au, Sdd, tr. 17 một sự thừa nhận mang tính phổ biến, đó là vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền luôn gắn liền với một khu vực thị trường nhất định.
Lý luận về cạnh tranh gọi khu vực thị trường đó là thị trường liên quan. Theo đó, thị trường liên quan là những điều kiện chung nhất trong quá trình mua bán hàng hóa và mang hàm ý về một ranh giới xác định của nhóm người mua và bán một loại hàng hóa cụ thể và không có sự cạnh tranh từ các khu vực khác. Nó yêu cầu một sự phác họa về sản phẩm và một khu vực địa lý cùng với một nhóm các hàng hóa, người mua, người bán tương tác với nhau trong việc thiết lập giá cả và đầu ra. Thị trường này bao gồm tất cả các hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý và các đối thủ cạnh tranh kế cận, mà người tiêu dùng có thể chuyển sang trong ngắn hạn nếu có sự hạn chế hoặc tăng giá có tính lạm dụng!.
Theo định nghĩa trên, thị trường liên quan bao gồm hai thành tố (¡) Thị trường sản phẩm liên quan và (1ñ) Thị trường địa lý hiên quan. Trong thị trường sản phẩm liên quan luôn tồn tại những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Chỉ khi xác định 1. UNCTAD: Model Law on Competition, Sdd, chapter 2, p.
18 được rằng các hàng hóa, dịch vụ này là có thể thay thế cho nhau mới có thể khẳng định các doanh nghiệp có phải là đối thủ cạnh tranh với nhau hay không. Thị trường địa lý liên quan là khu vực địa lý diễn ra việc mua bán các hàng hóa đó. Quá trình xác định thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan là tương tự nhau. Có nhiều cách khác nhau để xác định nhưng phương pháp được chấp nhận phổ biến là tiếp cận dựa vào phân tích nhu cầu tiêu dùng, xác định khu vực mà người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế hoặc nguồn cung cấp!.
® Thị trường sủn phẩm liên quan: Là thị trường của những hàng hóa có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Để được coi là có thể thay thế cho nhau, yêu cầu đầu tiên là các sản phẩm này phải có những đặc tính căn bản giống nhau, hay chí ít là tương đồng. Xuất phát từ chỗ có những đặc tính tương đông, yêu cầu thứ hai là các sản phẩm này phải có công dụng giống nhau, có nghĩa là có thể thay thế cho nhau. Lưu ý, cần phải thấy rằng công dụng của sản phẩm có liên quan đến đặc tính của sản 1.
World Bank: A framework for the designand implementation of competition law and policy, chapter 2, p. 19 phẩm nhưng không có nghĩa là các loại hàng hóa có nhiều đặc tính giống nhau đều có mục đích sử dụng giống nhau. Tuy vậy, việc xác định các sản phẩm có nằm trên cùng thị trường sản phẩm liên quan hay không, ngoài tính năng, công dụng thì việc xác định khả năng thay thế cho nhau về giá cả cũng đóng vai trò rất quan trọng. Bởi vì cho dù hai sản phẩm có nhiều đặc tính, công dụng giống nhau nhưng giá cả có sự chênh lệch quá lớn thì cũng không thể coi đó là các sản phẩm có thể thay thế cho nhau.
Khả năng thay thế cho nhau về giá giữa các sản phẩm được hiểu là việc người dùng có sẵn sàng từ bỏ sản phẩm này để mua sản phẩm khác khi có sự tăng giá hay không. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về giá cả nếu trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và 20 được duy trì trong 6 tháng liên tiếp!. Khả năng thay thế cho nhau giữa các sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng. Khi kinh doanh một sắn phẩm mà sản phẩm này không thể hoặc không có khả năng thay thế bởi các sản phẩm khác, doanh nghiệp sẽ không chịu sức ép từ cạnh tranh.
Bởi vì doanh nghiệp này là doanh nghiệp duy nhất đáp ứng được nhu cầu của người tiêu đùng. Nếu sản phẩm có thể thay thế cho nhau, việc kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn so với tình trạng độc quyền bất cứ lúc nào khách hàng cũng sẽ có thể lựa chọn sản phẩm khác để đáp ứng cho nhu cầu của mình, vì như trên đã để cập các sản phẩm này hầu như khác biệt không đáng kể về tính năng, công dụng và giá cả. ® Thị trường địa lý liên quan: Cùng với thị trường sản phẩm liên quan, thị trường địa lý liên quan là vấn đề mấu chốt cần phải chỉ rõ trong quá trình xác định thị trường hiên quan. Thị trường địa 1.
Điểm c, khoản 5, Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ- CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật cạnh tranh (Sau đây gọi tắt là Nghị định 116/2005/NĐ-CP. Một số quy định về thủ tục hành chính (không liên quan đến các điều khoản được nghiên cứu trong cuốn sách này) của nghị định đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 119/2011/NĐ-CP ngày 16-12-2011 của Chính phủ). 21 lý là một khu vực mà doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc tiến hành hoạt động. Một cách đơn giản nhất, thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý nhất định, trong đó doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động mà không có bất kỳ sự ngăn cản nào.
Thị trường địa lý có thể là một khu vực, một tỉnh, một quốc gia, hoặc cũng có thể là khu vực bao gồm nhiều tỉnh, nhiều huyện. Cũng giống như việc xác định thị trường sản phẩm liên quan, phương pháp xác định thị trường địa lý liên quan cũng dựa vào nhu cầu của người tiêu dùng. Đó là khu vực mà khách hàng thường xuyên mua sắm nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của mình. Để xác định khu vực này, một câu hói thường được đặt ra là khách hàng mua lẻ của doanh nghiệp có chuyển sang mua hàng ở một cửa hàng bán lẻ tại khu vực khác nếu như giá bán lẻ được tăng quá 5% hay không!.
Có nhiều thành tế cần phải làm rõ khi xác định thị trường địa lý liên quan. Đó là chi phí vận tải hàng hóa, sự thuận lợi cho khách hàng khi tiến hành mua hàng ở khu vực khác. Theo Luật cạnh tranh Ân Độ năm 2002 thi 1. UNCTAD: Model Law on Competition, Sdd, chapter 2, p.
22 thị trường liên quan được nhìn nhận từ thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Cụ thể: Thị trường địa lý liên quan là khu vực địa lý với những điều kiện cho việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ đồng nhất và có sự khác biệt với các khu vực lân cận.