TRUONG ĐẠI HỌC LUAT HÀ NOI KHOA PHÁP LUẬT KINH TE HỘI THẢO KHOA HỌC KIÊM SOÁT THOẢ THUẬN HẠN CHÉ CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2014 1 1. KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT KIM SOÁT HANH VI HAN CHE CẠNH TRANH TS. Nguyễn Thị Vân Anh Trường Đại học Luật Hà Nội 'Cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh là động lực phát triển hoạt động. Quá trình cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực tìm các.
giải pháp để thu hút khách hàng vẻ phía mình và đạt được lợi thế cạnh tranh. hơn so với các đối thủ. Bởi vậy, trong quá trình cạnh tranh doanh nghiệp nào. cũng mong muốn kiểm soát được giá cả và các yếu tố khác của thị trường như.
cưng, cầu, số lượng đối thủ tham gia cạnh tranh, tức là mong muốn có được sức mạnh thị trường. Để có sức mạnh thị trường, các doanh nghiệp sẽ áp dung một trong 3 chiến lược: (i) Chiến lược dim phán: Doanh nghiệp không có sức mạnh thị trường thỏa thuận với các doanh nghiệp khác để cùng hành động gây hạn chế cạnh tranh; (ii) Chiến lược ngăn cản: Doanh nghiệp ở vào vị trí thống. lĩnh thị trường hay vị trí độc quyền cố gắng tìm mọi cách giữ vững sức mạnh. hiện có bằng cách phổ biến là ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia cạnh tranh; (iii) Chiến lược tích tụ: Các doanh nghiệp tập trung, liên kết thống nhất về mặt tổ chức và hành động để có được sức mạnh thị trường!.
Ba chiến lược trên khi được sử dụng trong chừng mực nhất định sẽ làm ảnh hưởng đến quyền ` ` 8ô Thương mal, Vụ Php chế Kỹ yếu Hội thảo: “Cơ quan cạnh anh, Kính nghiệm quốc tế và lựa chọn cho Việt Nam”, TS chức tại Hà Nội ngày 89/7/2003, tự do cạnh tranh, một điều kiện cơ bản để đảm bảo quyền tự do hoạt động kinh. doanh của mỗi người dan, một quyền quan trọng được Hiển pháp bảo vệ * Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng chính sách cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh của nhiều nước trên thé giới đều nhì mục tiêu là: (1) ‘Dam bảo một quá trình cạnh tranh hiệu quả; (2) Tăng cường phúc lợi xã hội, đảm bảo lợi ích của người tiêu ding; (3) Tối đa hóa hiệu qué sản xuất, kinh. doanh, phân bỗ các nguồn lực xã hội. Vì va) , là công cụ pháp lý để bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, dem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội và người tiêu dùng, luật cạnh tranh của nhiều nước nhìn chung đều hướng tới điều chỉnh, kiểm soát 4 loại hành vĩ: ~ Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
~ Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, ~ Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. - Hành vi tập trung kinh Trong đó, các quy định vẻ kiểm soát tập trung kinh tế có tác động tiền kiếm nhằm ngăn chặn các vụ sp nhập làm phương hại tới cạnh tranh. Các quy định điều chinh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền nhằm mục đích hậu kié xử lý các hành vi làm phương hại tới cạnh tranh trên thị trường. hin chung, luật cạnh tranh của nhiều nước trên thé giới đều tập trung điều chỉnh 4 nhóm hành vi làm giảm, cản trở cạnh tranh trên thị trường đã nêu Nghị quyết sổ 512001/QH10 của Quốc bội ngày 25122001 về việc sim đổi, bỗ sung một số điều của Hiển pháp 1993, cụ thế Điu 16 Hiển nhấp 1992đã được sta đổi, bổ sung và bit đồ cổng nhận 6 che, cổ nhân thuc các think phần inh tế được in xuất kinh doanh rong những ngành nghề mã php luke không côn; cũng pt biển âu di, hop tú, bình đẳng và cọnh tanh tho php aft.
Hiển hấp (2013) khẳng định rõ: Mọi "người cổ quyên ty do kinh doanh ong những ngành nghề mã pháp lật không cầm (Điều 39; Các chủ thể "huộ các thành phẫn kinh tế nh đẳng, hop te và sạnh tranh theo pháp hật (Kean 2 Điều 5) Cục quản can tranh, Báo áo à soát các quy định của pháp ut can tranh Việt Nam, t 43 3 trên nhưng không tập trung các hành vi đó vào thành một nhóm và đặt tên cho nhóm hành vi này. Khác với luật cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới, Luật cạnh tranh. Việt Nam điều chỉnh ca những hành vi làm giám, sai lệch, cản trở cạnh tranh. trên thị trường và cả những hành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh và gọi chúng với những tên khác nhau, Cụ thể, - Khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh định nghĩa: Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm: hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dung vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.
Chương 2 Luật cạnh tranh (từ điều 8 đến điều 38) với tiêu đề kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh đã dành 31 điều để tập trung nhận diện các thỏa thuận hạn chế cạnh. tranh, các bảnh vi lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường, vi tri độc quyền, có hành vi tập trung kinh tế đồng thời cũng quy định các trường hợp doanh nghiệp. bj cắm thực hiện. Giống pháp luật cạnh tranh của nhiều nước trên thé giới, Luật cạnh tranh Việt Nam không cắm tất cả các hành vi có khả năng hạn chế cạnh tranh mà chỉ cắm những hành vi gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng ké trên thị trường.
Một số hành vi thuộc trường hợp bị cấm thực hiện nhưng trong tương quan so sánh giữa tác hại của nó tới môi trường cạnh tranh và hiệu quả của nó tới việc phát triển kinh tế, tới lợi ích của người tiêu dùng thì luật quy. định được hưởng miễn trừ. - Khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh quy định: Hành vi cạnh tranh “không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong qué trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp. pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Chương 3 Luật cạnh tranh 4 (từ Điều 39 đến Điều 48) quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đó là các quy định về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cắm, bao gồm các hành vi: Chi din gây nhằm; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc. trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh. của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến.
mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hàng đa cấp bắt chính; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 Luật cạnh tranh do Chính phủ quy định. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT KIÊM SOÁT HÀNH VI THOA THUẬN HAN CHẾ CẠNH TRANH CUA CÁC NƯỚC TREN THE GIỚI VÀ CUA VIỆT NAM 'Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong những chế định co ‘ban không thé thiếu trong pháp luật cạnh tranh của các nước nói chung và Việt ‘Nam nói riêng bởi tính chất nguy hai và tác động tiêu cực của hành vi nảy đối với môi trường cạnh tranh. Nhìn chung, để kiểm soát hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật của các nước trên thể giới và pháp luật Việt Nam tập trung quy định những nội dung sau: Thứ nhất, quy định để nhận điện ra các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. ‘Trude hết, thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật các nước được.
quy định theo những cách khác nhau nhưng hau hết đều quy định nhắm đến ban chất hạn chế cạnh tranh của hành vi. Cách quy định có thé là quy định bao quát nhắm đến bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi hoặc quy định theo. cách liệt kê những hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh dién hình có nhắm. đến bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi.
Theo cách thứ nhất, tiêu biểu được thể hiện trong Luật chống độc quyền Sherman của Mỹ. Cụ thể Điều 1 Luật 5 nay quy định: Mọi hợp đồng, liên kết dưới hình thức độc quyền hoặc phương. thức khác nhằm hạn chế trao đổi hoặc thương mại giữa các bang với nhau hoặc. với các quốc gia đều bị coi là bất hợp pháp.
Theo cách thứ hai, ví dy Điều 19, Luật thương mại lành mạnh và những quy định về độc quyền của Hàn Quốc. cquy định: Không một doanh nghiệp nào được thỏa thuận với một doanh nghiệp khác bằng hình thức hợp đồng, thỏa thuận, nghị quyết hoặc bất ky một biện. pháp nào khác để cùng nhau tham gia vào bất kỳ một hành vi nảo trong số. những hành vi được liệt kê dưới đây mà sẽ làm hạn chế một cách đáng kể sự cạnh tranh trong một lĩnh vực thương mại nhất định, bao gồm: ấn định, duy trì hoặc thay đổi giá cả; Hạn chế việc sản xuất , vận chuyển hoặc mua bán hing hóa hoặc địch vụ; hạn chế phạm vi mua bán hoặc khách hàng.
Điểm thứ hai có thé thấy là pháp luật cạnh tranh của tất cả các nước chỉ chú trọng quy định về các hình thức biểu hiện của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (thông qua hợp đồng, thỏa thuận, nghị quyết) ma không yêu cầu. nội dung thỏa thuận phải được thực hiện. Điểm thứ ba là pháp luật cạnh tranh của các nước không đặt ra yêu cầu về hình thức của thỏa thuận han chế cạnh tranh mà đều ngầm định thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là công khai hoặc thỏa thuận ngầm. Thoả thuận hạn.
chế cạnh tranh có thé được thé hiện dưới dang văn bản tài liệu nhưng cũng có thể không được ghi lại dưới bất kỳ một hình thức nào. Trong quy định xác định bản chất để nhận diện hảnh vi thỏa thuận han chế cạnh tranh, Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam có một số điểm khác pháp luật cạnh tranh của nhiều nước. (i) Theo Điều 8 Luật cạnh tranh, thoả thuận han chế cạnh tranh chỉ giới hạn trong 8 loại sau: ~ Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, địch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; 6 ~ Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hing hoá, cùng ứng dịch vụ; ~ Thod thuận han chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, moa, bán hang hoá, dich vụ; ~ Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; vụ không liên quan trực.