CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HANH VI LAM DỤNG VỊ TRÍ THONG LINH THI TRUONG DE HAN CHE CANH TRANH 1. KHÁI QUAT VE HANH VI LAM DUNG VI TRÍ THONG LINH THI TRUONG 1. Khai niém Khi Viét Nam chuyén tir nén kinh té ké hoach hoa tap trung sang nén kinh té thi trường thi ngay lập tức cũng xuất hiện sự cạnh tranh. Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của nền kinh tế thị trường.
Đồng thời, cạnh tranh cũng dẫn đến việc triệt tiêu lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh, quá trình cạnh tranh diễn ra đến một mức độ nào đấy sẽ xuất hiện tình trạng thống lĩnh thị trường. VỊ trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiểm soát thực tế hoặc tiềm năng đối với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ của một hoặc một số doanh nghiệp. Với cách hiểu như vậy thì vị trí thống lĩnh không chi được xem xét dưới góc độ vi trí của một doanh nghiệp mà còn có thé là vị trí của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động. Tức là giữa nhóm doanh nghiệp này không có sự thỏa thuận trước nhưng đã cùng hành động, cùng nhau thực hiện các hành vi như bán hàng hóa, cung ứng dich vu dưới giá thành toàn bộ dé loại bỏ đối thủ.
Khi đã xác lập được vị trí thông lĩnh, các doanh nghiệp thống lĩnh tìm mọi cách để duy trì vị trí thống lĩnh thị trường của mình với các cách thức như: thôn tính, tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh, ngăn cản không cho các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường, tiếp tục củng cô ưu thế và sức mạnh thị trường bằng việc lôi kéo các đối thủ liên kết tạo sức mạnh, phân chia thị trường, định giá cả. Các nhà kinh tế học đều thống nhất rằng thống lĩnh thị trường là hiện tượng khách quan, tồn tại trong tat cả các nền kinh tế. Nó là kết quả của qua trình cạnh tranh, một yếu tố không thể thiếu để thúc đây nền kinh tế phát triển. Vẫn đề ở chỗ, các doanh nghiệp sau khi đã có được vị trí thống lĩnh thì luôn có xu hướng lạm dụng vi trí của mình dé duy tri va củng cô vị thé, thu lợi nhuận, gây hại đến lợi ich của các chủ thé khác và của Nhà nước.
Chính từ thực trạng các doanh nghiệp khi có vi tri thống lĩnh thường lạm dụng vi tri của minh đã làm cho pháp luật tất yếu phải có những quy định dé điều chỉnh và kiểm soát. Các hành vi lạm dụng vi tri thong lĩnh dé kiếm lợi và xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác thì bị coi là bất chính [15]. Để kiểm soát được một quan hệ nào đó thì trước hết pháp luật phải nhận diện được đối tượng đó và những thuộc tính của nó. Tương tự như vậy, để điều chỉnh hành vi thống lĩnh thị trường thì pháp luật về cạnh tranh và chống lạm dụng vi tri thống lĩnh phải đưa ra được khái niệm về vị trí thống lĩnh và những tiêu chi dé xác định đâu là hành vi lam dụng vi trí thống lĩnh.
Tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau mà pháp luật của mỗi nước cũng đưa ra nhũng quan niệm và tiêu chí xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh khác nhau. Trong Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam chỉ đưa ra khái niệm chung về hành vi hạn chế cạnh tranh mà không định nghĩa thế nào là hành vi lạm dung vi tri thống lĩnh, thé nào là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó, hanh vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, can trở cạnh tranh trên thị trường, bao gom thỏa thuận han chế cạnh tranh, lạm dụng vị tri thong lĩnh thị trường, vị trí độc quyên và tập trung kinh tế (khoản 3 Điều 3 Luật cạnh tranh). Ngoài ra, dé cụ thé hóa, đạo luật đã liệt kê từng hành vi cụ thể trong ba nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh kê trên (Điều 8, 13, 14, 16 Luật canh tranh) Điều 79 Luật cạnh tranh của Canada quy định ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là: (1) một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát thị trường liên quan; (ii) thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (111) hành vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kế [8]. Bên cạnh đó, còn có một xu hướng khác trong pháp luật cạnh tranh trên thế giới khi định nghĩa về hành vi lạm dụng.
Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của tô chức hợp tác và phát triển Liên hợp quốc định nghĩa hành vi lạm dung vị trí thống lĩnh và vi trí độc quyền đề hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thong lĩnh hoặc độc quyên sử dung dé duy trì hay tăng cường vị tri của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh [19, tr52]. Ở đây có sự khác nhau giữa Luật Cạnh tranh của Canada và Bộ Quy tắc mẫu ở dấu hiệu chủ quan của hành vi. Nếu như Luật Cạnh tranh của Canada mô tả hành vi lạm dụng luôn mang trong mình nó khả năng (hậu quả) làm sai lệch, cản trở hoặc làm giảm cạnh tranh, thì Bộ Quy tắc và luật mẫu về cạnh tranh lại nhắn mạnh đến mục đích duy trì, củng có vị trí của doanh nghiệp vi phạm bằng cách ngăn can người khác gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh. Nếu so sánh từ góc độ lý luận, cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh Canada có vẻ trừu tượng hơn so với khái niệm của Luật mẫu về cạnh tranh, bởi lẽ việc xác định mức độ sai lệch, giảm hoặc cản trở cạnh tranh không phải là việc đơn giản, do cạnh tranh là khái niệm phản ánh mối quan hệ ganh đua trên thương trường nên khó có đại lượng khách quan nào có thể cân đong được mức độ của quan hệ cạnh tranh một cách chính xác.
Trong khi đó, xác định kha năng duy trì và củng cé vi trí của doanh nghiệp sẽ là đơn giản hơn, người ta có thể dựa vào những thông số kinh tế, kỹ thuật trên thị trường liên quan về số lượng doanh nghiệp, về thị phần, mức chênh lệch thị phần giữa các doanh nghiệp. là có thé đưa ra các kết luận khá chính xác. Các dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cho dù được mô tả bằng cách thức nao đi nữa, hành vi lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường luôn có ba dau hiệu nhận dạng.
Dấu hiệu thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thông lĩnh trên thị trường liên quan. Lý thuyết cạnh tranh đã chỉ ra rằng VỊ trí thống lĩnh có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như: sự biến di của sản phẩm, sự tồn tại của các rào can gia nhập thị trường. Trong những trường hợp nói trên, vị trí thống lĩnh là hợp pháp và đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường, hay còn gọi là kha năng chi phối các quan hệ thi trường. Theo cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường cua một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ ban hoặc mua {11, tr 682] Về mặt học thuật, có hai van dé cần phải làm rõ là: thir nhát, hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan đã được xác lập.
Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xóa bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vi trí thong lĩnh thị trường dé trục lợi hoặc dé bóp méo cạnh tranh. Một khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thi chúng van là chủ thé được pháp luật bảo vệ; thir hai, chủ thể thực hiện việc lạm dụng có thể là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4) có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan. Đối với vụ việc điều tra về hành vi lạm dụng của nhóm doanh nghiệp có quyên lực thị trường, cơ quan có thâm quyền cần phải phân biệt được hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Bởi trong pháp luật hạn chế cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng có một số điểm giống nhau, ví dụ (1) đều có thé do một nhóm doanh nghiệp thực hiện; (ii) nội dung của chúng giống nhau, như: phân chia thị trường, hạn chế sản xuất, phân phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ `thuật.
Tuy nhiên, khi một nhóm doanh nghiệp (với tổng thi phần kết hợp đủ để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có sự thỏa thuận trước. Ngược lại, néu co quan nhà nước có thắm quyền có đủ chứng cứ chứng minh rằng đã tồn tại một thỏa thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực hiện những hành vi nói trên thì hành vi của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật chống thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Dấu hiệu thứ hai: Hành vi lạm dụng vị trí thong linh la những hành vi được Luật Cạnh tranh liệt kê. Ngoài những khái niệm căn bản mang tinh hoc thuật về hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, cần phải gọi tên được từng hành vi lam dụng.
Dựa vào đó, người ta có thé phân tích ban chất của hành vi dưới góc độ của lý thuyết, đồng thời trong công tác thực thi pháp luật, cơ quan nhà nước có thấm quyền có thé dé dàng xác định sự vi phạm bang cách đối chiếu các hành vi thực tế với các quy định của pháp luật. Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng để hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủ các dau hiệu của một hành vi nào đó đã được luật quy định là lạm dụng.