chương Il từ điều 11 đến Điều 23 Bộ Thương mại, Vụ Pháp chỗ, Kỷ yếu Hội tảo: "Cơ quan cạnh ran , Kính nghiệm quốc và lựa chọn cho Việt Nam", Tổ chúc ại Hà Nội ngày 89772003. 3 Tinh đến nay, ở Việt Nam số vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được điều tra và xử lý còn ít nhưng xét trong bối cảnh các cơ quan cạnh tranh Việt Nam còn non trẻ với nguồn lực hạn chế và Luật Cạnh tranh năm 2004 còn có nhiều vướng mắc khó khăn khi thực thi thì có thể thấy Luật Cạnh tranh đã chính thức đi vào cuộc sống và trong chừng mực nhất định đã phát huy tác dụng. 1, Những vấn đề lý luận về thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Khái niệm thod thuận hạn chế cạnh tranh Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần huy động mọi nguồn lực cũng như hợp tác với các doanh nghiệp khác để nâng cao vị thể của mình.
Vấn để này đòi hỏi giữa các doanh nghiệp phải có sự thoả thuận với nhau, về đầu tư, nghiên cứu, phát triển hệ théng, cung ứng nguyên Tiệu, phân phối sản phẩm. Việc thoả thuận giữa các doanh nghiệp là công việc diễn ra thường xuyên và liên tục trong thời gian vận hành, có những thoả thuận "lành mạnh" như thoả thuận về R&D, thoả thuận về thống nhất tiêu chuẩn kĩ thuật nhưng cũng có những thoả thuận "không lành mạnh" giữa các doanh nghiệp nhằm thống nhất với nhau cùng tăng giá, hay phân chia thị trường, Ấn định sản lượng v. Những, thoả thuận "không lành mạnh” này làm loại trừ „ làm giảm hoặc sai lệch cạnh. tranh giữa các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận cũng như thay đổi tương, ‘quan cạnh tranh trên thị trường hoặc các loại thoả thuận nhằm thu lợi bắt chính.
từ khách hằng, người tiêu dùng, đây chính là các thoả thuận hạn chế cạnh tranh. ‘Thoa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) được định nghĩa trong cuốn Black Law Dictionary như sau: “Một sự két hợp giữa các nhà sản xuất hoặc người bán é kidm soát tinh trang sản xuất hoặc giả cé của sản phẩm” hoặc “Một higp hội của các công ty có lợi ích chung, tim cách ngăn chặn cạnh tranh một cách cực đoan hoặc không công bằng, phân chia thị trường hoặc chia sé thông. in", Đây là hai trường hợp của thoả thuận hạn chế cạnh tranh, đều thể hiện rõ. mục dich của hành vi thoả thuận giữa các công ty nhằm ngăn cân cạnh tranh, * Bryan A.
Games, Editor in Chief, Black Law Dictionary, 9h edition, West Publishing, 2009, p.271 4 động tới thị trường, tới giá cả của sản phim từ đó gây tác hại cho mỗi trường cạnh tranh, cho các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng; đặc biệt trong định nghĩa này có đề cập tới trường hợp Hiệp hội, thực tiễn cho thấy đây là nơi khởi nguồn của rất nhiều các thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Nghiên cứu lịch sử phát triển pháp luật cạnh tranh trên thế giới cho thấy quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xuất hiện đầu tiên trong luật cạnh. tranh của Hoa Kỳ (section 1 của Đạo luật Sherman 1890), theo đó: "Mọi hop đồng, liên kết đưới hình thức độc quyển hoặc theo phương thức khác, nhằm han chế trao đổi hoặc thương mại giữa các bang với nhau hoặc với các quốc gia khác, đều bị coi là bắt hợp pháp". Ở Châu Âu, thỏa thuận hạn chế cạnh.
tranh được quy định tại Điều 81 (Điều 85 cũ) của Hiệp ước Rome về thành lập cộng đồng chung Châu Au năm 1957 (hiện nay là Điều 101 TFEU sau Hiệp. tước Lisbon), theo đó: "Moi thoả thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các nước thành viên và có đối tượng hoặc hệ quả ngăn cản, shan chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trong thị trường của liên minh, đều bị coi là di ngược lại với mục đích thành lập thị trường chưng và bị cắm, “đặc biệt là các hành vi : én định một cách trực tiếp hoặc gián tiếp giá bén/mua hoặc các điều kiện giao dich khác; hạn chế hoặc kiém soái sản xuất, thị trường, tiển bộ kỹ thuật hoặc đầu tư; phân chia thị trường hoặc các nguồn cung cấp; ápđụng đối với các đối tác thương mại, các điều kiện mang tính phân biệt đốt xử các giao dich tương đương gây thiệt hại cho đỐI tác trong cạnh tranh, buộc bên giao kết hợp đồng phải chấp nhận các điều kiện thương mại bổ sung mà xét về bản chất hoặc theo tập quản thương mại, không liên quan đắn đối tượng của hợp đẳng". Kh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mới được quy định tại Khoản 4 Điều 3 trong Luật Cạnh tranh năm 2018. Theo đó, thỏa thuận hạn chế cạnh.
tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc. có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. Theo Điều 11 Luật Cạnh tranh. năm 2018 các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh gồm: ~ Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián dế - Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cùng ứng dich vụ = Thỏa thuận han chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sân xuất, mua.
bán, hàng hóa, dich vụ; ~ Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cắp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. ~ Thỏa thuận ngăn cản, kim ham không cho doanh nị iệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; - Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận; ~ Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; = Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua bán. hàng hóa, dich vụ cho các doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh. nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trục tiếp đến đối tượng.
của hợp đồng; ~ Thỏa thuận không giao dich với các bên không tham gia thỏa thuận. ~ Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cắp hàng. hóa, cũng ứng dich vụ của các bên không tham gia thỏa thuận. "Ngoài mười dạng thoả thuận được liệt kê, Điều 11 còn có một quy định mở cho phép cơ quan quản lý nhà nước vẻ cạnh tranh xem xét thoả thuận giữa.
doanh nghiệp có phải là thoả thuận hạn chế cạnh tranh hay không tuy (huộc vào mite độ gây tác động đến cạnh tranh của nó, Nhu vậy, các dang thoả thuận được Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định đã có sự thay đổi về thứ tự nhằm phù hợp với cách thức kiểm soát của Luật cũng như bổ sung thêm hai dạng thoả thuận mới so với Luật Cạnh tranh năm 2004. Thod thuận hạn chế cạnh tranh có thể tồn tại và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia, thoả thuận hạn chế cạnh tranh có thé chia làm thoả thuận dọc và thoả thuận ngang. ngang còn được gọi là dhỏa dhuận các-fen, đó là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp đối thủ trên thị trường để chéng phải cạnh tranh với nhau về một hoặc một số yếu tố của thị trường.
‘Thod thuận các-ien thường được lập ra để phối hợp, điều hoà host động kinh doanh giữa các thành viên, nhất là trong việc ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế và kiểm soát sản lượng. Nội dung của thoả thuận các-ten thường là những yếu tố cạnh tranh chủ yếu nhất trên thị trường. những hành vi thoả thuận các-len có nhóm hành vi théa thuận giữa các doanh nghiệp đối thủ trực tiếp ấn inh những yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất của thị trường cạnh tranh tự do như giá cả, sân lượng, thị trường hoặc thông thầu. Day được gọi là nhóm các thoả thuận các-ten nghiêm trọng (hardcore cartel).
“Thỏa thuận dọc là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh ở các công dogn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân. phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định. Các thỏa thuận loại này thường không gây tác hại hạn chế cạnh tranh trong kỉnh doanh bằng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp đối thủ hoạt động trên cing thị trường liên quan. KẾ từ khi pháp luật cạnh tranh ra đời, các cơ quan thực thi trên thé van thống nhất quan điểm cho rằng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là những thoả thuận các-ten nghiêm trọng, vi phạm trực tiếp các nguyên tắc cạnh tranh và được thừa nhận là một trong những hành vi phan cạnh tranh có tác động nghiêm trọng nhất tới thị trường nên việc kiểm soát đối với hành vi này.
phải là một trong những ưu tiên hàng đầu.2, Tác động của thoả thuận hạn chỗ cạnh tranh 'Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là một trong những hành vi nguy hiểm, có tác động làm giảm, làm sai lệch, gây cản trở hoặc hạn chế va thậm chí triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường, từ đó làm triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Với việc thỏa thuận, các doanh nghiệp dang tir đối thủ cạnh tranh chuyển sang thành đối tác của nhau, cùng nhau thống nhất dua ra những tiêu chuẩn chung như giá, kỹ thuật, công nghệ. qua đó làm giảm hoặc triệt tiêu cạnh tranh lẫn nhau. Hậu quả là các doanh nghiệp không còn phải đối mặt với sức ép cạnh tranh nên có thể tự do đưa ra những điều kiện giao kết bắt lợi cho khách hàng, làm giảm hiệu quả kinh tế của toàn xã hội.
thuận hạn chế cạnh tranh được các quốc gia trên thế giới nhìn nhận là hành vi gậy ảnh hưởng rực tiếp đến teu ding cá nhân, ác động tiêu cục đến cấu trúc, môi trường cạnh tranh và sự phát triển của nề kinh Đối với môi trường và cấu trúc cạnh tranh. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có tác động làm giảm, sai lệch, cản trở thậm chí triệt tiêu cạnh tranh giữa các sản phẩm liên quan, ngăn cản. gia nhập hay mở rộng thị trường của các. doanh nghiệp, các nhà cung cấp, các nhà phân phối khác, loại bỏ các đối thủ cạnh tranh.
Ngoài ra, nó còn làm giảm khả năng cạnh tranh hiệu quả của các doanh nghiệp trong thỏa thuận. Với những tác động đó sẽ dẫn tới hậu quả là. môi trường cạnh tranh nói chung và cầu trúc cạnh tranh của thị trường nói riêng sẽ bị tác động và phá vỡ, các hoạt động cạnh tranh không còn diễn ra theo đúng, cquy luật của thị trường. Đối với người tiêu dùng phải mua hàng hóa, dich vụ ở mức giá cao hon nhưng chất lượng thấp hơn.
Do sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tham.