Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho 10 họ những quyển không ai có thé xâm phạm được, trong các quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất ca các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đăng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyển sung sướng và quyền tự do” [64, tr.
Trong lời dẫn của bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chủ Tịch đã xuất phát từ quyển tự nhiên của con người và Bác coi các quyền này không ai có thể phủ nhận được. Trong các quyển của con người. quyển bình đẳng giữa các đân tộc đóng một vai trò quan trọng. vì nó là cơ sở để thực hiện các quyển chính trị, dân sự, kinh tế.
Để thực hiện quan điểm trên, Nhà nước ta ghi nhận và bao hộ quyền con người trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Dac biệt trong Hiến pháp 1999, quyển con người được ghi nhận một cach day đủ tại Điều 50: “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” [28. Quyền thừa kế là quyền của con người trong một chế độ xã hội nhất định, cho nên trong các xã hội khác nhau. Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt những mục đích khác nhau.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đất đai nằm trong tay giai cấp chủ nô, những người nông dân hầu như không có tài sản, vì vậy trong xã hội này thừa kế tài sản nhằm củng cố chế độ tư hữu tuyệt đôi về đất đai của giai cấp thống trị, cho nên người lao động đấu tranh để thay đổi phương thức chiếm hữu tài san của giai cấp thống trị và khi giành được chính quyền, đất dai được phân chia cho người lao động, từ đó làm thay đổi các quan hệ thừa kế. Quá trình phát sinh, thay đổi quan hệ thừa kế có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của các quan hệ kinh tế, xã hội và cũng chính quan hệ này làm thay đổi các chế độ khác nhau trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Chính vi vậy, diéu chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế không ngừng phát triển theo hướng dam bảo quyển con người ngày một tốt hon. Ang-ghen cho rằng: “C.
Mác là người đầu tiên đã phát hiện, tim ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra sự thật đơn giản. là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc trước khi có thể lo đến chuyện làm chính tri, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo” [39, tr. Bt Con người sản xuất ra của cải vật chất, đó là yêu cầu khách quan của tổn tại xã hội. Con người không thể thỏa mãn nhu cầu của mình bằng những cái đã có sẵn trong tự nhiên.
Để duy trì và nâng cao đời sông, con người phải sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất không những là cơ sở cho sự tổn tại của con người mà còn là nền tảng để hình thành các quan hệ khác như: quan hệ chính tri, quan hệ pháp luật, quan hệ đạo đức. Việc sản xuất của con người luôn luôn thay đổi, phát triển, cho nên những quan hệ trên cũng thay đổi và phát triển theo. Khi chế độ tư hữu và Nhà nước xuất hiện, thừa kế là một công cụ để duy trì quyền lực, giai cấp bóc lột được thừa hudng di sản cũng đồng nghĩa với việc được thừa hưởng quyền lực của người đó đối với xã hội.
Khi Nhà nước ra đời, để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thông trị, Nhà nước ban hành pháp luật và quy định cho mỗi cá nhân, tầng lớp trong xã hội được hưởng cái gì và họ phải gánh chịu các nghĩa vụ nào đối với Nhà nước. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên theo chế độ phụ quyền, cho nên quyền thừa kế được xác định dựa trên nền tảng của chế độ phụ quyền và gia trưởng. Theo chế độ phụ quyền, quyền lực của người cha là tuyệt đối được xác lập trên các thành viên cua gia đình. Trong gia đình, người nắm quyền gia trưởng toàn quyển quản lý tài sản của gia đình, con cháu không có quyền sở hữu tài sản.
Khi người nắm quyền gia trướng chết, di sản tiếp tục chuyển cho người kế tục quyền gia trưởng quản lý. Bộ luật đầu tiên của chế độ phụ quyển là Bộ luật của Nhà nước chiếm hữu nô lệ Bavilon có tựa dé là Luật Khamurapi (thê kỷ thứ XVII trước công nguyên). Bộ luật này gồm 282 điều và được chia thành từng nhóm theo nội dung, được phân chia rõ ràng các quy định riêng về hình sự, dân sự, tố tụng. Chế định dân sự của Bộ luật này quy định quyền sở hữu của vợ, chồng, các hợp đồng dân sự như: cho vay, mua bán, quy định về thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo di chúc chỉ được thực hiện khi các con trai mang trọng tội, người bố được phép truất quyền thừa kế của con trai và di chúc cho người khác hưởng. Khi chia di sản các con được hưởng ky phần ngang nhau. Những quy định về thừa kế của Nhà nước chiếm hữu nô lệ được phát triển và hoàn thiện hơn trong Luật XII bang và các đạo luật khác của Nhà nước La Mã cổ đại hay được gọi là Luật La Mã. Trong Luật La Mã, chế định thừa kế tương đối hoàn chỉnh.
Mặc dù cấu trúc của chế định thừa kế khôag chia thành các phần rõ ràng, tuy nhiên có các quy định chung và các quy định chia đi sản theo pháp luật, chia di sản theo di chúc. 12 Ở các nhà nước phong kiến và tu bản, phần lớn tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về giai cấp thống trị, người lao động không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho địa chủ và các nhà tư bản, vì vậy pháp luật về thừa kế thực chất là bảo hộ quyển sở hữu tư nhân của giai cấp thông tri đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Trong chế độ XHCN, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân lao động, Nhà nước bao hộ thu nhập hợp pháp của cá nhân, gia đình từ các hệ thống kinh tế khác nhau. Cá nhân có quyền sở hữu tài sản thì có quyển để lại thừa kế cho người khác hưởng.
Ăng-ghen khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: "Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm của xã hội cá. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu đó để bóc lột lao động của người khác" [38]. Ngày nay, ở mỗi quốc gia, phụ thuộc vào chế độ chính trị, chế độ sở hữu và phong tục, tập quán của nhân dân trong quốc gia đó, mỗi nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế có sự khác nhau. nhân dân ta đã và đang xây dựng CNXH mà nền tảng kinh tế của xã hội là chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất và được thể hiện tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992: "Đất đai, rừng núi, sông hồ tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển.
là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân". Như vậy, theo Hiến pháp, cá nhân không có quvền sở hữu đất dai, nhưng có quyền sử dụng, Nhà nước cho phép cá nhân, hộ gia đình để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật, tạo điều kiện cho cá nhân an tâm lao động san xuất, đầu tư vốn, công sức. trí tuệ để sản xuất kinh doanh, tao ra nhiều của cai cho gia đình và xã hội. Cá nhân có quyền sở hữu các loại tài sản mà pháp luật không cấm, khi còn sống họ định đoạt tài sản bằng nhiều phương thức khác nhau như: bán, cho thuê, cho vay, cho tặng hoặc lập di chúc để định đoạt cho người khác sau khi họ shết.
Khi mở thừa kế, nếu có di chúc, di sản được chia theo di chúc, Nhà nước luôn luôn tôn trọng ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ý chí của :igười lập di chúc bi hạn chế theo Điều 669 BLDS. Trường hợp người để lại di sản không lập di chúc, di sản chia theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ gia đình đổi với người để lại di san.
Người thừa kế nhận di sản, phải thực hiện nghĩa vụ của người chết trong phạm vi di sản hưởng. Mặt khác, nếu người để lại thừa kế giao nghĩa vu quan lý di sản thờ cúng, thì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Ngoài ra, di san là di 13 tích văn hoá như nhà thờ, nhà rường được xếp hạng di tích, những người thừa kế có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản các giá trị văn hoá đó theo quy định của Luật Di san Văn hoa. trong các chế độ xã hội khác nhau, con người đều có quyền thừa kế tai sản, tuy nhiên phạm vi quyền thừa kế được bảo hộ thế nào do bản chất chế độ xã hội quyết định.
Quyền thừa kế có thể tiếp cận dưới góc độ pháp luật là chế định thừa kế trong luật dân sự. Với ý nghĩa là một chế định pháp luật về thừa lkế, quyền thừa kế là tổng hợp các quy định của Nhà nước, quy định những tài sản nào dược chuyển dịch, phạm vi chủ thé để lại di sản và nhận di sản, quyền nghĩa vụ của các chủ thể. Ngoài ra, pháp luật quy định trình tự, phương thức phan chia di sản theo đi chúc và theo pháp luật. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, pháp luật quy định cho giai cấp chủ nô có quyển sở hữu tuyệt đổi với tài sản của minh, trong đó nô lệ cũng trở thành đổi tượng của sở hữu.
Vào thé ky thứ V trước công nguyên, Nhà nước La Mã đã ban cho công dân những quyền lực xã hội tỷ lệ với tài sản của họ. Chủ nô chiếm hữu toàn bộ đất đai và các tư liệu sản xuất khác. giai cấp nô lệ và những tầng lớp nông dân tự do không có tư liệu sản xuất, cho nên phụ thuộc hoàn toàn vào giai cấp chủ nô. Rõ rang Nhà nước chiếm hữu nô lệ là nhà nước của giai cấp hữu sản, dùng để bảo vệ g1a1 cấp này chéng lại giai cấp không có tài sản.