Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chế định thừa kế là một trong những nội dung trọng tâm của pháp luật dân sự, gắn liền trực tiếp với sự hình thành và phát triển của quyền sở hữu tài sản qua các hình thái kinh tế - xã hội. Khi chủ sở hữu tài sản qua đời, việc chuyển giao khối tài sản của họ cho những người còn sống là một tất yếu khách quan nhằm bảo đảm trật tự xã hội và sự ổn định của quan hệ tài sản. Tại Việt Nam, Hiến pháp qua các thời kỳ (Điều 19 Hiến pháp 1959, Điều 27 Hiến pháp 1980, Điều 32 Hiến pháp 2013) đều ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân cùng quyền thừa kế của công dân.
Mặc dù việc chuyển giao tài sản cho con cháu là một truyền thống lâu đời, nhưng trên thực tế thói quen lập di chúc của người dân vẫn chưa phổ biến do ảnh hưởng của phong tục tập quán và tâm lý e ngại. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp có lập di chúc nhưng di chúc bị vô hiệu do vi phạm các điều kiện về chủ thể, hình thức hoặc nội dung theo luật định. Khi đó, việc phân chia di sản buộc phải thực hiện theo hình thức thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, các quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản liên quan vẫn còn một số điểm mang tính chung chung, thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết, dẫn đến nhận thức không đồng nhất và phát sinh nhiều vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Theo văn bản nhiệm vụ tốt nghiệp, đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Giải quyết các vấn đề lý luận về thừa kế theo pháp luật.
- Làm rõ các nội dung pháp lý cơ bản về thừa kế theo pháp luật trong hệ thống pháp luật hiện hành.
- Phân tích những vấn đề mới nhất về thừa kế theo pháp luật hiện nay.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thừa kế theo pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật thực định (trọng tâm là Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014) trong sự đối chiếu với lịch sử lập pháp từ thời phong kiến (thế kỷ XV) đến nay, kết hợp khảo sát thực tiễn áp dụng trong quá trình thực tập tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng (Hải Phòng) từ ngày 12/04/2021 đến ngày 03/07/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về nguồn gốc của quyền sở hữu và thừa kế (tiếp cận quan điểm của Ph. Ăng-ghen về chế độ mẫu quyền và sự chuyển dịch tài sản trong thị tộc nguyên thủy), kết hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam:
- Các bộ luật cổ và văn bản thời kỳ Pháp thuộc: Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức năm 1483), Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long năm 1815), Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Dân luật Trung Kỳ năm 1936.
- Các văn bản sau năm 1945: Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950, Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/07/1981 của Tòa án nhân dân tối cao, Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/08/1990.
- Khung pháp luật hiện hành: Hiến pháp 2013; Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005 và 2015; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, 1986, 2000 và 2014; Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Nghị định số 70/2001/NĐ-CP; Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Giải mã các quy phạm pháp luật, thuật ngữ chuyên môn và cấu trúc chế định thừa kế.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Khảo cứu tiến trình lập pháp thừa kế qua từng giai đoạn để rút ra tính kế thừa và phát triển.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu giữa thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, so sánh quy định của BLDS 2015 với các văn bản tiền nhiệm (BLDS 1995, BLDS 2005, Pháp lệnh Thừa kế 1990).
- Phương pháp phân tích tình huống thực tiễn: Sử dụng dữ liệu hồ sơ thực tế tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng để nhận diện các bất cập khi áp dụng luật.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản luật thực định, tài liệu giáo trình chuẩn mực (Giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội), các nghị quyết hướng dẫn nghiệp vụ xét xử và hồ sơ giải quyết vụ việc dân sự tại cơ sở thực tập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế theo pháp luật
Chương này trình bày toàn diện lịch sử lập pháp và các vấn đề mang tính nền tảng của chế định thừa kế theo pháp luật.
Tiến trình phát triển qua các giai đoạn:
- Thời kỳ phong kiến: Luật Hồng Đức (1483) thể hiện tư tưởng tiến bộ khi chia di sản cho các con không phân biệt nam nữ (Điều 374, 375, 376), bảo vệ quyền lợi của con nuôi và người vợ góa, đồng thời quy định trích 1/20 diện tích điền sản làm hương hỏa (Điều 390). Ngược lại, Luật Gia Long (1815) mang nặng tư tưởng "trọng nam khinh nữ", chỉ chia đều di sản cho các con trai và không bắt buộc để lại phần hương hỏa.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Dân luật Bắc Kỳ (1931) và Dân luật Trung Kỳ (1936) tiếp thu Bộ luật Dân sự Pháp 1804, quy định chia di sản theo thứ tự ưu tiên, bảo đảm sự bình đẳng giữa con trai và con gái, ghi nhận chế định thừa kế thế vị.
- Giai đoạn từ 1945 đến nay: Sắc lệnh số 97/SL (1950) xác lập nguyên tắc bình đẳng nam nữ và quyền thừa kế giữa vợ chồng. Thông tư số 81 (1981) hướng dẫn 2 hàng thừa kế. Pháp lệnh Thừa kế (1990) mở rộng thành 3 hàng thừa kế và công nhận con nuôi được thừa kế cả cha mẹ nuôi lẫn cha mẹ đẻ. BLDS năm 1995, 2005 và 2015 tiếp tục pháp điển hóa, hoàn thiện diện và hàng thừa kế cũng như quyền của các tổ chức, pháp nhân.
| Tiêu chí so sánh |
Thừa kế theo di chúc |
Thừa kế theo pháp luật |
| Căn cứ phân chia |
Dựa trên ý chí chủ quan của người lập di chúc (Điều 624 BLDS 2015) |
Dựa trên quy định của pháp luật về hàng, điều kiện và trình tự (Điều 649, 650 BLDS 2015) |
| Chủ thể hưởng di sản |
Cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước được chỉ định |
Chỉ có thể là cá nhân có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng |
| Quy tắc thế vị |
Không áp dụng chế định thừa kế thế vị |
Áp dụng thừa kế thế vị đối với cháu, chắt (Điều 652 BLDS 2015) |
| Phân chia kỷ phần |
Theo định đoạt trong di chúc; nếu không ghi rõ thì chia đều |
Chia đều cho những người thừa kế cùng hàng (Điều 651 BLDS 2015) |
| Thứ tự áp dụng |
Luôn được ưu tiên áp dụng trước |
Áp dụng khi không có di chúc hoặc di chúc không xử lý hết toàn bộ di sản |
Các trường hợp áp dụng thừa kế theo pháp luật (Điều 650 BLDS 2015):
Tác giả phân tích 7 trường hợp: (1) Không có di chúc; (2) Di chúc không hợp pháp; (3) Người thừa kế theo di chúc chết trước/cùng thời điểm, hoặc tổ chức hưởng thừa kế chấm dứt tồn tại; (4) Người được chỉ định không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận; (5) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc; (6) Phần di sản liên quan đến phần di chúc bị vô hiệu; (7) Phần di sản liên quan đến người thừa kế theo di chúc từ chối, mất quyền hoặc chết trước.
Các quy định chung về thừa kế:
- Di sản (Điều 612): Gồm tài sản riêng, phần tài sản trong khối tài sản chung và các quyền về tài sản (không bao gồm quyền gắn liền với nhân thân như cấp dưỡng, trợ cấp).
- Người để lại di sản: Chỉ có thể là cá nhân. Người từ đủ 18 tuổi có quyền lập di chúc; người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý bằng văn bản.
- Người hưởng thừa kế: Cá nhân còn sống tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm đó nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết (Điều 613). Phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản nhận được (Điều 615).
- Thời điểm, địa điểm mở thừa kế (Điều 611): Thời điểm là lúc người có tài sản chết hoặc ngày Tòa án tuyên bố chết (Điều 71). Địa điểm là nơi cư trú cuối cùng, hoặc nơi có toàn bộ/phần lớn di sản.
Chương 2: Nội dung pháp lý cơ bản về thừa kế theo pháp luật
Chương này tập trung mổ xẻ cấu trúc diện thừa kế, các hàng thừa kế, cơ chế thế vị và trình tự phân chia tài sản theo luật định.
Ba mối quan hệ xác định diện thừa kế:
- Quan hệ hôn nhân: Xác lập qua đăng ký kết hôn hợp pháp. Áp dụng thừa nhận hôn nhân thực tế theo Nghị quyết 35/2000/QH10 đối với các quan hệ xác lập trước 03/01/1987. Quyền thừa kế giữa vợ chồng vẫn được bảo lưu khi: đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (khoản 1 Điều 655 BLDS 2015), đang xin ly hôn nhưng bản án chưa có hiệu lực pháp luật (khoản 2 Điều 655), hoặc người còn sống sau đó kết hôn với người khác (khoản 3 Điều 655).
- Quan hệ huyết thống: Căn cứ vào dòng máu trực hệ và bàng hệ. Quyền thừa kế của con không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ (con trong giá thú, con ngoài giá thú đều bình đẳng). Áp dụng quy định suy đoán con chung trong thời hạn 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt (Điều 21 Nghị định 70/2001/NĐ-CP) và việc xác định cha mẹ bằng xét nghiệm gen hoặc phương pháp hỗ trợ sinh sản.
- Quan hệ nuôi dưỡng: Con nuôi và cha mẹ nuôi có đầy đủ quyền thừa kế như con đẻ (khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010, Điều 653 BLDS 2015). Quan hệ giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế phát sinh quyền thừa kế nếu có hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con (Điều 654 BLDS 2015).
Ba hàng thừa kế theo pháp luật (Điều 651 BLDS 2015):
- Hàng thứ nhất: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thứ hai: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Căn cứ Nghị quyết 02/HĐTP (1990), anh chị em ruột bao gồm cả trường hợp cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; con riêng của vợ và con riêng của chồng không phải là anh chị em ruột.
- Hàng thứ ba: Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột (người chết là bác, chú, cậu, cô, dì); chắt ruột (người chết là cụ nội, cụ ngoại).
Thừa kế thế vị (Điều 652 BLDS 2015):
Phát sinh khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được thế vị hưởng phần di sản của cha/mẹ; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm thì chắt được thế vị hưởng phần di sản của cha/mẹ chắt. Các đặc điểm cốt lõi gồm: chỉ phát sinh trong thừa kế theo pháp luật; áp dụng cho người trực hệ; người thế vị chỉ hưởng chung một suất thừa kế của người được thế vị.
Phân chia di sản và thứ tự thanh toán nghĩa vụ:
- Tài sản chung vợ chồng: Khi một bên chết, tài sản chung được chia đôi, phần của người chết trở thành di sản thừa kế (Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014).
- Trường hợp thai nhi: Phải trích lại một phần di sản bằng phần của người thừa kế cùng hàng; nếu sinh ra còn sống sẽ được hưởng, nếu chết trước hoặc ngay sau khi sinh thì chia đều cho các thừa kế khác cùng hàng (khoản 1 Điều 660 BLDS 2015).
- Xử lý hiện vật không chia được: Thỏa thuận định giá để giao cho một người nhận kèm thanh toán chênh lệch, hoặc bán tài sản để chia tiền.
- Phát sinh tình huống mới (Điều 662): Xuất hiện người thừa kế mới thì không chia lại hiện vật mà các thừa kế đã nhận phải thanh toán bằng tiền tương ứng; người bị bác bỏ quyền thừa kế phải hoàn trả lại di sản hoặc giá trị bằng tiền.
- Hạn chế phân chia di sản (Điều 661): Tòa án có thể gia hạn thời gian chưa phân chia tối đa 3 năm và được gia hạn thêm một lần không quá 3 năm nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình.
- Thứ tự 10 nghĩa vụ ưu tiên thanh toán (Điều 658 BLDS 2015): (1) Chi phí mai táng; (2) Tiền cấp dưỡng còn thiếu; (3) Chi phí bảo quản di sản; (4) Tiền trợ cấp sống nương nhờ; (5) Tiền công lao động; (6) Tiền bồi thường thiệt hại; (7) Thuế và nghĩa vụ tài chính với Nhà nước; (8) Các khoản nợ khác; (9) Tiền phạt; (10) Các chi phí khác.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện những quy định về thừa kế theo pháp luật
Chương 3 chỉ ra các bất cập trong hệ thống quy phạm hiện hành qua thực tế áp dụng tại cơ sở thực tập:
- Vấn đề quyền thừa kế thế vị (Điều 652): Điều luật chỉ quy định việc thế vị khi người con "chết trước hoặc chết cùng thời điểm". Văn bản chưa làm rõ trường hợp người con bị tước quyền hưởng di sản hoặc không có quyền hưởng di sản theo Điều 621 BLDS 2015 thì cháu/chắt có được quyền thế vị hay không.
- Quan hệ thừa kế của con nuôi (Điều 653): Quy định chưa giải quyết triệt để tình huống con nuôi của người con đẻ (đã chết) có được hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của ông bà hay không.
- Khái niệm định tính về nuôi dưỡng: Tiêu chí "có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con" giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế (Điều 654) hoàn toàn mang tính định tính, chưa có định lượng hay tiêu chí hành vi cụ thể, dẫn đến sự tùy nghi khi xét xử tại các Tòa án khác nhau.
- Bất cập ở hàng thừa kế thứ ba: Phạm vi hàng thứ ba bao gồm quá nhiều thế hệ và đối tượng, gây khó khăn cho việc lập hồ sơ, xác minh nhân thân và thu thập chứng cứ, dễ dẫn đến tình trạng bỏ sót người thừa kế hợp pháp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể:
- Hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa của pháp luật thừa kế Việt Nam từ thế kỷ XV đến BLDS 2015, làm nổi bật sự chuyển biến từ chế độ phong kiến sang nền tảng dân sự hiện đại.
- Làm rõ cấu trúc 3 hàng thừa kế, cơ chế vận hành của thừa kế thế vị, và trình tự 10 nghĩa vụ ưu tiên thanh toán tài sản theo Điều 658 BLDS 2015.
- Chỉ ra 4 nhóm vướng mắc pháp lý cốt lõi liên quan đến Điều 621, 652, 653 và 654 BLDS 2015 dựa trên thực tiễn công tác tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng.
- Đề xuất các giải pháp lập pháp: Cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về quyền thế vị của cháu/chắt khi cha mẹ bị truất quyền; xác lập các tiêu chí rõ ràng về hành vi "chăm sóc nuôi dưỡng" giữa con riêng và bố dượng/mẹ kế; hoàn thiện cơ chế xác minh nhân thân cho hàng thừa kế thứ ba.
Về mặt đóng góp, khóa luận là công trình nghiên cứu tổng hợp có giá trị kết nối giữa quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp tư vấn luật, cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích cho việc đánh giá hiệu quả thi hành BLDS 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu thực tiễn của khóa luận chủ yếu được thu thập trong phạm vi đợt thực tập tốt nghiệp tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng (Hải Phòng) từ tháng 04/2021 đến tháng 07/2021, chưa mở rộng phạm vi khảo sát thực tế xét xử các bản án tranh chấp thừa kế trên toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao; phân tích các án lệ liên quan đến chia thừa kế theo pháp luật; nghiên cứu đối chiếu sâu hơn với quy định thừa kế của một số quốc gia trên thế giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tư liệu có giá trị cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Tham khảo khung phân tích lịch sử lập pháp, bảng so sánh giữa thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, cùng các luận giải chi tiết về Điều 650, 651, 652, 658, 660 BLDS 2015.
- Luật sư, chuyên viên pháp lý và công chứng viên: Tham khảo các phân tích về phân định tài sản chung vợ chồng khi một bên chết, quy tắc giải quyết quyền lợi cho thai nhi, và phương thức xử lý tình huống phát sinh người thừa kế mới theo Điều 662 BLDS 2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc đang làm thủ tục ly hôn mà một bên chết thì bên còn sống có được hưởng thừa kế theo pháp luật không?
Có. Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 655 BLDS 2015, việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng, nên người còn sống vẫn được thừa kế. Trường hợp đang xin ly hôn mà chưa có bản án/quyết định có hiệu lực của Tòa án thì người còn sống vẫn thuộc diện thừa kế của bên chết.
2. Điều kiện để con riêng và bố dượng, mẹ kế được hưởng thừa kế theo pháp luật của nhau là gì?
Theo Điều 654 BLDS 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế chỉ được thừa kế di sản của nhau nếu giữa họ thực tế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con.
3. Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên nào trước khi chia thừa kế?
Căn cứ Điều 658 BLDS 2015, nghĩa vụ tài sản được thanh toán theo 10 thứ tự ưu tiên: (1) Chi phí mai táng; (2) Tiền cấp dưỡng; (3) Chi phí bảo quản di sản; (4) Tiền trợ cấp sống nương nhờ; (5) Tiền công lao động; (6) Bồi thường thiệt hại; (7) Thuế và nghĩa vụ ngân sách; (8) Các khoản nợ khác; (9) Tiền phạt; (10) Các chi phí khác.
4. Khi chia di sản thừa kế theo pháp luật, quyền lợi của người thừa kế là thai nhi được bảo đảm như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 660 BLDS 2015, phải dành lại một phần di sản bằng phần của người thừa kế cùng hàng cho thai nhi. Nếu thai nhi sinh ra và còn sống thì được hưởng phần này; nếu chết trước hoặc ngay sau khi sinh ra thì phần di sản đó được chia đều cho những người thừa kế khác cùng hàng.
5. Nếu sau khi đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì giải quyết như thế nào?
Theo Điều 662 BLDS 2015, không tiến hành phân chia lại di sản bằng hiện vật. Những người thừa kế đã nhận di sản có trách nhiệm thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tài sản đã nhận, trừ khi có thỏa thuận khác.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Giang đã làm rõ toàn diện các vấn đề lý luận và quy định thực định về thừa kế theo pháp luật theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tác giả đã hệ thống hóa tiến trình phát triển của pháp luật thừa kế từ thế kỷ XV đến nay, phân tích chuyên sâu cấu trúc diện, hàng thừa kế và chế định thừa kế thế vị. Đồng thời, thông qua hoạt động thực tập thực tế tại Hải Phòng, công trình đã phát hiện những điểm nghẽn pháp lý và đưa ra các kiến nghị có tính ứng dụng nhằm hoàn thiện chế định thừa kế trong hệ thống pháp luật Việt Nam.