Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở việt nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích pháp luật kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2002

205
11
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT ĐỘC QUYỀN VÀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1.1. Khái quát chung về cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường

1.2. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh – công cụ hữu hiệu để Nhà nước bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh

1.3. Vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh

1.4. Những đặc trưng cơ bản của pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh

1.5. Những nội dung chủ yếu của pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh

1.6. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH, ĐỘC QUYỀN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ NÀY Ở VIỆT NAM

2.1. Thực trạng vấn đề cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

2.2. Bối cảnh chung của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

2.3. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh

2.4. Tình trạng lạm dụng thế mạnh để hạn chế cạnh tranh

2.5. Độc quyền Nhà nước và những ảnh hưởng của nó

2.6. Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam

2.7. Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cạnh tranh

2.8. Nhận xét về thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam

2.9. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT ĐỘC QUYỀN VÀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM

3.1. Những quan điểm cơ bản và yêu cầu đối với việc nghiên cứu xây dựng pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

3.2. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh phải được xây dựng dựa trên quan điểm, đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước

3.3. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh phải được xây dựng dựa trên nền tảng của chính sách cạnh tranh phù hợp, hiệu quả

3.4. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh phải phù hợp với nguyên tắc và quy luật vận động khách quan của nền kinh tế thị trường

3.5. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh phải phù hợp với phong tục, tập quán và chuẩn mực đạo đức kinh doanh

3.6. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh phải bảo đảm quá trình hội nhập pháp luật quốc tế và khu vực

3.7. Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh phải tạo cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện nguyên tắc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng giữa các chủ thể kinh doanh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng

3.8. Một số định hướng khi nghiên cứu xây dựng pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam

3.8.1. Giải quyết mối quan hệ giữa vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước với yêu cầu bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong kinh doanh

3.8.2. Giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh với pháp luật chuyên ngành trong quá trình thực hiện điều chỉnh pháp luật

3.8.3. Hình thành một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh

3.8.4. Kiến nghị các giải pháp thực hiện

3.9. Xây dựng một Đạo luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh ở Việt Nam

3.10. Tăng cường các lĩnh vực pháp luật có liên quan đến việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo ra sự đồng bộ trong cơ chế điều chỉnh vấn đề cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam

3.11. Kết luận Chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Pháp luật kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh

Pháp luật kiểm soát độc quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh là công cụ quan trọng để Nhà nước duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực phát triển, nhưng cũng dẫn đến các hành vi tiêu cực như độc quyền thị trườnghành vi cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật này giúp điều chỉnh các hành vi này, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Luật cạnh tranh Việt Nam đã được xây dựng dựa trên các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

1.1. Khái quát về cạnh tranh và độc quyền

Cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cạnh tranh gay gắt dẫn đến hành vi cạnh tranh không lành mạnhđộc quyền thị trường. Pháp luật kinh tế Việt Nam đã nhận diện các vấn đề này và đề xuất các biện pháp kiểm soát. Cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các hành vi như bôi nhọ đối thủ, nhái mẫu hàng hóa, gây nhầm lẫn thương hiệu. Độc quyền thị trường xuất hiện khi một doanh nghiệp kiểm soát thị phần lớn, hạn chế cạnh tranh.

1.2. Vai trò của Nhà nước trong kiểm soát độc quyền

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quy định pháp lý cạnh tranh. Thông qua luật chống độc quyền, Nhà nước kiểm soát các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Pháp luật thương mạiluật doanh nghiệp cũng góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng. Nhà nước cần xây dựng các cơ chế giám sát và xử lý vi phạm, đảm bảo các doanh nghiệp tuân thủ quy định.

II. Thực trạng cạnh tranh và độc quyền tại Việt Nam

Thực trạng cạnh tranh và độc quyền tại Việt Nam phản ánh những thách thức trong việc thực thi pháp luật cạnh tranh. Các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm ưu thế, dẫn đến tình trạng độc quyền nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài cũng tham gia cạnh tranh, nhưng thường xảy ra các hành vi không lành mạnh. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cần được tăng cường để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.

2.1. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh

Cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam biểu hiện qua các hành vi như bán phá giá, quảng cáo so sánh không trung thực, và lôi kéo khách hàng. Các doanh nghiệp thường sử dụng chiến thuật này để giành lợi thế cạnh tranh. Pháp luật kinh tế cần có các quy định cụ thể để xử lý các hành vi này, đảm bảo môi trường cạnh tranh công bằng.

2.2. Độc quyền nhà nước và ảnh hưởng

Độc quyền nhà nước vẫn tồn tại trong nhiều ngành kinh tế, gây ra tình trạng lũng đoạn thị trường. Các doanh nghiệp nhà nước thường có ưu thế về tài chính và chính sách, hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân. Quản lý độc quyền cần được cải thiện để giảm thiểu tác động tiêu cực đến nền kinh tế.

III. Phương hướng xây dựng pháp luật kiểm soát độc quyền

Việc xây dựng pháp luật kiểm soát độc quyềnchống cạnh tranh không lành mạnh cần dựa trên các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Luật kinh tế cần được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các giải pháp bao gồm xây dựng đạo luật cạnh tranh, tăng cường giám sát thị trường, và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3.1. Xây dựng đạo luật cạnh tranh

Việc xây dựng đạo luật cạnh tranh là cần thiết để tạo ra khung pháp lý vững chắc. Đạo luật này cần quy định rõ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và biện pháp xử lý. Pháp luật cạnh tranh cũng cần phù hợp với các cam kết quốc tế, đảm bảo hội nhập kinh tế toàn cầu.

3.2. Tăng cường giám sát thị trường

Giám sát thị trường là yếu tố quan trọng để đảm bảo tuân thủ quy định chống độc quyền. Các cơ quan quản lý cần được trang bị đủ nguồn lực và quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ. Kiểm soát thị trường cần được thực hiện thường xuyên, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CO SO LY LUAN CUA PHAP LUAT VE KIEM SOAT BOC QUYEN VA CHONG CANH TRANH KHONG LANH MANH 11. KHÁI QUAT CHUNG VE CẠNH TRANH VA ĐỘC QUYEN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. Cạnh tranh là một trong những quy luật vận động của kinh tế thị trường. Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại dù thuộc trường phái chủ nghĩa tự do hay trường phái chủ nghĩa can thiệp cũng đều phải thừa nhận, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trường, nó vừa là môi trường, vừa là động lực nội tại thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Tuy nhiên, về phần mình, cạnh tranh cũng chứa đựng những đặc trưng cơ bản bao gồm: (i) có mặt tích cực và mặt tiêu cực, (ii) luôn có xu thế hướng tới độc quyền (iii) có sự biến đổi trong các hình thái thị trường. Cạnh tranh chỉ xuất hiện dưới những tiền đề kinh tế, pháp lý nhất định, nếu cạnh tranh gay gắt không có sự điều tiết và kiểm soát tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng độc quyền. Vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các chủ thể kinh doanh có thể thực hiện các thủ đoạn cạnh tranh với bất kỳ hình thức nào và hậu quả đưa đến là sự ngăn cản, hạn chế hoặc làm triệt tiêu cạnh tranh. Bên cạnh đó, tình trạng độc quyền cũng có thể xuất hiện bởi sự điều tiết, can thiệp từ phía công quyền vào môi trường cạnh tranh (trong một số ngành đặc biệt như hàng hoá, dịch vụ công cộng, liên quan đến an ninh quốc gia.

nhiều nước đã phải duy trì tình trạng độc quyền ở mức độ nhất định để đảm bảo lợi ích của Nhà nước và lợi ích chung của toàn xã hội, duy trì chi phi sản xuất và lưu thông xã hội ở mức hợp lý. Như vậy, cạnh tranh và độc quyền được coi là hai mặt tồn tại khách quan và là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường. Mặc dù được thể hiện ở các hình thái, cấp độ khác nhau, nhưng phải thừa nhận, độc quyền được sản sinh chủ yếu từ môi trường cạnh tranh hoặc là hệ quả tất yếu của quá trình cạnh 12 tranh. Về mặt triết học, cạnh tranh và độc quyền phản ánh những mâu thuẫn trong mot thé thống nhất.

Khái quát chung về cạnh tranh. Khát niệm cạnh tranh. Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Về mặt thuật ngữ, cạnh tranh (Compete dgt), tên tiếng Anh (Competition) được hiểu là sự ganh đua để giành ưu thế về phía mình trong một lĩnh vực nào đó của một (hay một nhóm) người đối với những người còn lại.

Tìm hiểu khái niệm cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng kinh tế xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, chúng ta có thể nghiên cứu nó dưới giác độ là một quy luật kinh tế, một thuộc tính cơ bản của nền kinh tế thị trường. Theo cuốn Từ điển kinh doanh của Vương quốc Anh, xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Từ điển Tiếng Việt "Bách khoa tri thức phổ thông" của chúng ta [48] cũng giải thích cạnh tranh theo nghĩa kinh tế, triết học là "hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.” Theo các cách giải thích trên, cạnh tranh được coi là hành vi của các chủ thể trong khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nền kinh tế thị trường, nhằm mục đích tạo lập cho mình một ưu thế có lợi nhất để thu lợi nhuận cao nhất. Trong môi trường hoạt động tồn tại quy luật cạnh tranh, cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ lợi ích cho toàn xã hội, cạnh tranh luôn có những tác động tích cực.

Cạnh tranh buộc các đối thủ tự phải hoàn thiện mình và trang bị cho mình những điều kiện tốt 13 nhất để nhập cuộc, kết quả sẽ đem lại cho toàn xã hội những lợi ích đáng kể (Ví dụ, cạnh tranh trong kinh tế sẽ đem lại cho xã hội những lợi ích như: chất lượng hàng hoá, dịch vụ tốt hơn, giá cả phải chăng, hợp lý hơn). Giống như những quy luật tồn tại và đào thải của tự nhiên, quy luật cạnh tranh trong kinh tế luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh, những chủ thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý và tri thức về kỹ thuật công nghệ, có tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường sẽ tồn tại và phát triển, còn những chủ thể kinh doanh yếu kém, không đủ năng lực cạnh tranh sẽ bị đào thải ra khỏi thị trường. Đó cũng là quy luật của thương trường. Hiệu quả hay là chết.

Cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi cá nhân các chủ thể sản xuất kinh doanh, mà còn là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Cạnh tranh cũng tạo ra các tiền đề để hình thành, phát triển đa dạng hoá các loại hình thị trường. Khi hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường, nếu lợi nhuận thôi thúc các chủ thể tham gia tiến hành và sản xuất kinh doanh, thì cạnh tranh lại bắt buộc và thúc đẩy họ phải điều hành các hoạt động này sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn và nhu cầu của người tiêu dùng.

Sức tiêu thụ và sở thích của người tiêu dùng là trung tâm thị trường, là thước đo trung thực về hình thức, kiểu dáng và chất lượng của hàng hoá, sản phẩm. Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm mà theo họ là tốt nhất và phù hợp yêu cầu của họ. Nếu một sản phẩm không đáp ứng yêu cầu thị trường, thì sự lựa chọn của người tiêu dùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hướng và hoàn thiện. Các chủ thể sản xuất kinh doanh sản phẩm này phải chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức kinh doanh để thoả mãn yêu cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể kinh doanh và sản phẩm.

Từ đó, cạnh tranh có tác dụng làm tăng uy tín và lợi nhuận cho nhà kinh doanh, tăng khả năng và phạm vi phân phối lưu thông, tạo ra sự năng động của nền kinh tế. Cạnh tranh là sự bảo đảm cho cả người sản xuất và người tiêu dùng không thể lạm dụng ưu thế của mình trên thị trường và lạm dụng lẫn nhau. Một nền kinh tế hoạt 14 động có hiệu qua, năng động, thoả mãn về mặt lợi ích cho cả các nhà sản xuất va người tiêu dùng xã hội chỉ có được khi môi trường cạnh tranh tồn tại và được bảo đâm. Bởi vậy, cạnh tranh còn là yếu tố điều tiết hệ thống thị trường.

Nhìn nhận dưới giác độ khoa học pháp lý, khó có thể đưa ra một khái niệm chuẩn chung cho hiện tượng cạnh tranh. Vì vậy, chúng ta nên tìm cách giải thích phù hợp với bản chất vận động của nó. Trước hết, để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế, thì cạnh tranh luôn là mục tiêu được nuôi dưỡng và bảo vệ bởi chính sách và pháp luật cạnh tranh. Về phần mình, cạnh tranh được giải thích là một hoạt động mang tính hiệu quả với đặc điểm được tạo bởi chuỗi những hành động thúc đẩy có chủ định của mét chủ thể kinh doanh trong một thị trường cụ thể.

Để thoả mãn những lợi ích của riêng mình, phù hợp với các quy định của pháp luật, các chủ thể kinh doanh cố gắng dat được những điều khoản uu đãi bằng việc sử dụng những thông số cạnh tranh như giá cả, chất lượng, dịch vụ bán hàng, điều kiện vận chuyển, quảng cáo, tiếp thị,. nhằm tạo ra lợi thế trong kinh doanh. Theo Adam Smith, cạnh tranh là tiền dé để bảo vệ sự tự do đối với những quyết định và hành động vì lợi ích của nhà kinh doanh [37, tr. 50], song rộng hơn, là nhằm bảo vệ sự hoàn hảo về kinh tế, trật tự thị trường và công bằng xã hội.

Tuy nhiên, để đạt được điều này, thì bản thân quá trình cạnh tranh phải được diễn ra trong những trật tự và khuôn khổ nhất định, phải được nuôi dưỡng và bảo vệ bởi chính sách và pháp luật về cạnh tranh. Chức năng của cạnh tranh. Được thừa nhận là một hiện tượng kinh tế, là môi trường vận động của cơ chế kinh tế thị trường, cạnh tranh thực sự tồn tại như một quy luật khách quan, là động lực thúc đẩy và điều tiết mọi hoạt động kinh tế. Các lợi ích mà nền kinh tế xã hội có được do sự tồn tai của cạnh tranh như đã phan ánh được phần nào chức năng của nó đối với nền kinh tế.

Cạnh tranh đảm nhận những chức năng quan trọng sau đây: Thứ nhất, cạnh tranh giúp cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối wu nhất. Do tính hiệu quả và mục đích tối đa hoá lợi nhuận, các chủ thể kinh doanh khi tham gia thị trường có tính cạnh tranh, không thể không cân nhắc khi quyết định sử dụng các nguồn lực về vật chất và nhân lực của mình vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Họ luôn phải sử dụng một cách tối ưu và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên này sao cho chi phí sản xuất là thấp nhất nhưng lại phải đạt được hiệu quả cao nhất. Chính từ đặc điểm này, mà các nguồn tài nguyên được vận động, chu chuyển hợp lý về mọi mặt để phát huy hết khả năng vốn có đưa lại năng suất cao.

Không có một cơ quan hay quyết định hành chính nào có thể thay thế, làm tốt hơn chức năng điều tiết nguồn lực của cạnh tranh trong việc đề ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên, không vì thế mà coi hoạt động của chức năng này là có hiệu quả tuyệt đối bởi vẫn còn những trường hợp, yếu tố rủi ro. Thứ hai, cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh. Khi một doanh nghiệp đưa ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường, sản phẩm đó nhanh chóng chiếm được ưu thế và tạo điều kiện để doanh nghiệp thu lợi nhuận cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Pháp luật kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống pháp lý liên quan đến kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam. Tài liệu này phân tích các quy định pháp luật hiện hành, thực trạng áp dụng, và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư, và nhà hoạch định chính sách quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ luật học vi phạm hợp đồng hiệu quả, nghiên cứu về hiệu quả của việc xử lý vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học hợp đồng hợp tác thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng cung cấp cái nhìn chi tiết về thực trạng pháp lý trong hợp đồng hợp tác. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về trách nhiệm pháp lý trong các tình huống thiệt hại ngoài hợp đồng. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các khía cạnh pháp lý đa dạng.