đặt vấn đề thực thi nếu một hành vi cạnh tranh cụ thé fy thiệt hại đối với xã hội. Tuy nhiên, có nhiều cách diễn giải về thiệt hại, có thể bao. Tại Việt hại về cơ hội kinh doanh do hành vi vi phạm. ‘gdm cả thiệt đề Nam, do vấn minh và tính toán tế, có thể chứng thiệt hại thường được xác định là thiệt hi thực “Điều 5 Luật Cnh tran Ki quy định v nguyên tắc uu tiga áp dung Luật Cạnh anh kh có xong đột phá ht hông phân ảnh đứng đặc thù ca lth vue pháp lut CTKLM, vốn được sử đụng như một công cụ bồ te, khắc phục khoảng ống của các quy nh điều chính bot động tị trường.
16 được không bao gồm những thiệt hại về cơ hội kinh doanh. Do đó quy định tại khoản. 4 Điều 3 sử dụng khái niệm “đe dọa gây thiệt hại”, cho phép áp dụng pháp luật về CTKLM kể cả khi hành vi chưa gây thiệt hại thực tế, ít nhất nhằm ngăn ngừa những. hậu quả có thé phát sinh.
Cách tiếp cận nảy cũng phù hợp với hoạt động thực thi mang tính chất hành chính của eo quan quản lý cạnh tranh, không bao gồm việc giải quyết Đồi thường thiệt hại ‘Nhu vậy, có thé thấy để xác định và xử lý một hành vi CTKLM, cần phải xem. xét đầy đủ cả 3 yếu tố: tính chất cạnh tranh, tính chất trái thông lệ, chuẩn mực kinh. doanh và khả năng đe doa gây thiệt hại. Sẽ không thể áp dung pháp luật về CTKLM.
“nếu thiểu một trong ba yếu tổ trên. Trên thực tẾ, cơ quan cạnh tranh đã từ chối hoặc đình chỉ xem xét nhiều vụ việc khi xác định giữa các bên không có quan hệ cạnh trình Với nhau, hành vĩ cạnh tranh bị khiếu nại mặc dù không đúng đến nhưng không gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại, hoặc hành vi cạnh tranh bị khiếu nại mặc dù gay thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh nhưng lại thuộc trường hợp cạnh tranh chính đáng, đúng pháp luật. Các hành vi CTKLM theo quy định của Luật Cạnh tranh. Do sự khó khăn, không rõ ring trong việc đánh giá bản chất một hành vi thị trường cụ thể có phải là CTKLM hay không dựa trên các yếu tố định tính như trên, trong quá trình phát triển của pháp luật về CTKLM, các nhà làm luật đã từng bước dua ra một danh sách liệt kê những bành vi luôn bị coi là CTKLM cần phải bị ngăn chặn và xử lý.
Danh sách này được cập nhật trong quá tình phát triển kinh tế xã hội và mỗi khi có một hoặc một số dạng thức cạnh tranh mới gây vấn đề, người ta sẽ vận. dụng những tiêu chí về bản chất CTKLM để xem xét, đánh giá để cập nhật vào danh. vi bị coi là cạnh tranh không Nam cũng đưa ra 9 dang hành Luật Cạnh tranh Việt lành mạnh, được liệt kê tại Điều 39. Tuy nhiên, dường như không có một triết ý lập pháp rõ rang cho việc lựa chọn các hành vĩ vĩ phạm, và các nhà làm luật đã lựa chọn một số vấn đề mang tính hiện tượng tại thời điểm làm luật, hoặc tiếp thu thiếu cần nhắc các quy định nước ngoài, ma không dựa trên những đặc trưng về bản chất của CTKLM như đã phân tích.
Do sự tách rồi về nội dung và ý tưởng xây dựng quy định, rất khó tim ra một cách tiếp cận thống nhất cho việc nhận thức nội dung cũng như tổ. chức thực th chúng. "Ngoài ra, cách soạn thảo điều luật cũng chưa thực sự hợp lý khi đưa vào nội dung mô tả hành vi những yếu tố về mục đích (nhằm cạnh tranh không lành mạnh) ” Tan Tar TG TTA VER cb OA! HOG LAT HÀ Nộ: hay về hậu quả (ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động kinh doanh), có thé được nhìn nhận 1a một yếu tổ cầu thành bắt buộc cần phải chứng minh 48 kết luận về vi phạm, khiến cho công tác thực thi càng trở nên khó khăn. Mit khác, việc Luật Cạnh tranh đưa ra danh sách các hành vi vĩ phạm sẽ đồng khung hoạt động của cơ quan cạnh tranh trong khuôn khổ 9 hành vi nói trên theo nguyên tắc cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép.
Trong trường hop phát hiện một hành vi có day đủ những đặc trưng của CTKLA theo khoản 4 Điều 3, nhưng không thuộc phạm vi 9 hành ví được liệt kê trong luật, cơ quan cạnh tranh không thé xứ lý mà phải kiến nghị Chính phủ ra văn bản điều chính bỗ sung theo khoản 10 Điều 39, đồng nghĩa vồi một tiến trình xây dựng văn bản pháp luật mới lâu đài và phức tạp 7 4, Đặc điểm một số nhóm hank vi CTKLM phổ biến _Đựa vào đặc điểm, tinh chất các hành vi CTKLM theo quy định của Luật, có thé phân nhóm như sau = Các hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu trí tuệ, bao gm Chi dẫn gây nhằm lẫn, Xâmm phạm bí mật kinh đoanh và các lành ví CTKLM trong trong lĩnh vực sở hữn. trí tuệ khác được quy định tại Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ. Các hành vi CTKLM liên. quan sở hữu tri tuệ thường được coi là dạng vi phạm tiêu biểu về CTKLM tại nhiều quốc gia, và là cơ sở để phát sinh các học thuyết pháp lý và án lệ nền tang trong tính vực này.
Tuy nhiên, cũng có một số hành vi mới được bổ sung trong thời gian gan đây và con gây nhiều tranh cãi, tiêu biểu là hành vi chiếm đoạt tên miền nhằm mục dich trục lợi hoặc CTKTM (Điễm d khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữ trí tuệ) ‘Cac vụ việc CTKLM liên quan đến các hành vi nay thường mang dáng đắp tranh chấp của luật tư, theođó cơ quan cạnh tranh chỉ có thé can đhiệp Khi có yêu cầu của bên bị xăm phạm. Bản chất của các hảnổ vi thuộc nhóm này là chiếm đoạt lợi thể cạnh. tranh của người khác, và người bị thiệt hại edn cung cấp thông tin giớp cơ quan cạnh tranh xác định lợi thế cạnh tranh cụ thể đã bị chiếm đoạt, quyền hợp pháp của mình. trong việc xác lập, sử dung lợi thé cạnh tranh đó và thiệt bại xảy ra.
Do &5, các vụ việc. liên quan đến nhóm hanh vi nay thường chi xudt phat từ việc một bên nộp hỗ sơ khiếu. nại, hiếm có trường hợp cơ quan cạnh tranh tự chủ động khởi xướng điều tra vi phạm. "Nghĩa vụ chứng mình đối với bn khiếu nại trong suốt quả tình dig tra xử l vụ việc cũng rất nặng nề.
Do đó, số lượng các vụ việc được xử lý cho đến nay chưa nhiều. ‘Tuy nhiên, công tác thực thi pháp luật lién quan nhóm hành vi này thuận lợi hon so với các hành vi CTKLM khác ở chỗ đã có văn bản hướng din dưới luật mới được 1 ban hành là Nghị định số 97/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/09/2010 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và Thông từ 37/2011/TT- BKHCN ngày 27/12/2011 hướng dẫn Nghị định số 97/2010/NĐ-CP. Các văn bản này đã đưa ra một số tiêu chí chỉ tiết để đánh giá, xác định hành vi CTKLM có liên quan và các thủ tục cụ thể bên khiếu nại cần thực hiện để yêu cầu cơ quan có thắm quyền. xửÖý ` Nhôm hành vi CTKLM liên quan đến xúc tiến thương mại, bao gằm quảng cáo, khuyến mại nhằm CTKLM.
Đặc điểm chung của nhóm hành vi này là sử dụng những, biện pháp bit chính 48 lôi kéo khách hang. ĐI tượng chịu tác đông trực tiếp của các “hành vi này là khách hàng/người tiêu ding, còn các đoanh nghiệp cạnh tranh chỉ chịu. ảnh hướng gián tiếp từ hành vi vi phạm thông qua việc mắt khách hàng. Tuy nhiên, néu không được ngăn chặn và xử lý, các bảnh vi này sẽ tử nên phổ biến, gây nhiễu oạn trật tự kinh doanh và tác động xấu đến môi trường cạnh tranh.
Các hành vi vị phạm về quảng cáo, khuyến mại xây ra rit nhiều trên thực tế, và vi vậy chiếm một số lượng lớn các vụ việc CTKLM được cơ quan cạnh tranh xử lý. “Trừ trường hợp quảng cáoso sánh (kboản 1 Điều 45) và khuyến mại đổi hàng (khoản. 4 Điều 46), trong các vụ việc khác về quảng cáo và khuyến mại khác, đối tượng bi tác động là số đông khách hàng và đối thủ cạnh tranh tiểm năng cling, không thể xác định được cụ thé, Do đó, cơ quan cạnh tranh rất ít khi nhận được khiếu nại về các hành ví này và thường tự khởi xướng điều tra khi nhận thấy có dấu hiệu vi phạm tại các hoạt động quảng cáo, khuyến mại trên thị trưởng, Do tác động trực tiếp của các hành vi quảng cáo, khuyến mại vi phạm nhằm vào. tượng khách hàng, người tiêu ding, làm sai lệch các giao dịch thị trường và ảnh thưởng đến trật tự kinh doanh của một ngành, lĩnh vực nhất định, có rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về hành vi vi phạm có nội dung tương ée pháp luật cạnh tranh.
(Quy định về khuyến mại có thé tìm thấy cai Luật Thương mại 2005, trong đó quy định. vé quảng cáo thông tin gian dối, gây nhằm lẫn được đưa vào vào không chỉ Luật Thương mại mà một loạt các văn bản khác như Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Được, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Quảng cáo. Những chồng lắn trong quy. định của pháp luật sẽ dẫn đến chồng lần về thẩm quyền thực thi từ nhiều cơ quan nhà ước Khác nhau, như sẽ được phân tích tại phẩ sau của bài viết.
Nhu đã đề cập ở phần trên, các vụ việc vi phạm khoản 3 Điều 45 của Luật Cạnh. tranh về quảng cáo gian đổi, gây nhằm lẫn chiếm một phan lớn hoạt động thực thi pháp luật về CTKLM. Trong khi vấn đề chứng minh vi phạm và xứ lý (hông tin gian 19 dối (sai khác so với sự thật) thường không quá phức tạp thì các vụ việc về gây nhằm Tấn phức tgp hơn nhiều, vì thông tin trong trường hợp aay thường không hoàn toàn sai sự thật, nhưng không đầy đủ, rõ ring, từ đó làm chéch hướng nhận thức của người tiếp, nhận, khiến họ hiểu nhằm về thực tế. Có những trường hợp bên đưa ra gầy thông tin không cố ý gây nhằm lấn, còn người tiếp nhập hông tin cũng có lỗi chủ quan dẫn đến, hiểu nhằm.
ĐỂ có thé áp dụng quy định của pháp luật, cơ quan thực thi cần xác định rõ khả năng gây nhằm lẫn trong các nội dung thông tin, phạm vi gây nhằm lẫn bao gồm một số lượng đáng ké người tiêu ding và mức độ gây nhằm lẫn đủ khiến cho người tiếp nhận thông tin quyết định lựa chọn sản phẩm được quảng cáo.