BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỘI THẢO KHOA HOC CAP TRƯỜNG NHUNG KHÍA CẠNH KINH TE TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN Hà Nội, Ngày 23 thang 12 năm 2021 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI NHUNG KHÍA CẠNH KINH TE TRONG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN Hà Nội, Ngày 23 thang 12 năm 2021 MỤC LỤC Mỗi liên hệ giữa một số lý thuyết kinh tế học trong nghiên cứu và Trang học tập môn Luật cạnh tranh ThS. Nguyễn Văn Luân -Trường Dai học Luật Hà Nội TS. Dinh Thùy Trâm — Truong Đại hoc Lao Động Xã Hội Tổng quan về pháp luật cạnh tranh lãi ThS. Nguyễn Ngọc Quyên Trường Đại học Luật Hà Nội Lý thuyết trò chơi trong thị trường độc quyên tập đoàn ThS.
Tran Phương Tâm Án - Trường Đại học Luật Hà Nội 21 ThS. Lê Thị Khánh Ly - Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Độc quyền nhà nước trong pháp luật cạnh tranh dưới góc nhìn kinh tê ThS. Lương Thị Thoa Trường Đại học Luật Hà Nội 31 Sức mạnh thị trường dưới góc độ kinh tế học và pháp luật cạnh tranh 44 ThS. Trần Thị Phương Liên Trường Đại học Luật Hà Nội Các hành vi tập trung kinh tế dưới góc độ kinh tế học ThS.
Trần Phương Tâm An 56 Truong Dai học Luật Hà Nội Hoạt động M & A với việc kiểm soát tập trung kinh tế trong pháp luật cạnh tranh ThS. Nguyễn Van Đợi 71 Truong Đại học Luật Hà Nội Phap luat vé canh tranh không lành mạnh nhìn từ góc độ kinh té 81 1S. Nguyễn Danh Nam; TS. Hoàng Đình Minh Học viên Chính Trị Quốc Gia Hồ Chi Minh khu vực 1 9.
| Phân tích kinh tế học pháp luật đối với hành vi phân biệt giá trong Luật cạnh tranh năm 2018 9] PGS. Nguyên Thị Vân Anh Trưởng Đại học Luật Hà Nội 10. | Mức độ tập trung của thị trường dưới góc độ kinh tế học và pháp luật cạnh tranh 101 TS. Phạm Phương Thao Truong Đại học Luật Hà Nội 11.
| Kinh tế số và sự tác động đến pháp luật cạnh tranh ThS. Nguyễn Thu Trang 113 Truong Đại hoc Luật Ha Nội 12. | Một số ứng dụng của kinh tế học pháp luật trong nghiên cứu pháp luật cạnh tranh 123 ThS. Nguyén Đức Ngọc — SV Lê Thị Khanh Chi Lớp 4528 Truong Dai hoc Luật Ha Nội Mối liên hệ giữa một số lý thuyết kinh tế học trong nghiên cứu và học tập môn Luật cạnh tranh ThS.
Nguyễn Văn Luân - Trường Đại học Luật Hà Nội 1S. Định Thùy Trâm — Trường Đại học Lao Động Xã Hội Tóm tắt: Luật Cạnh tranh là phương tiện được Nhà nước sử dụng dé điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trên thị trường trên cơ sở kết hợp tư duy pháp lý và tư duy kinh tế. Trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy cũng như học tập pháp luật cạnh tranh không thể thiếu các lý thuyết kinh tế học. Trong khuôn khổ bài viết tác giả muốn chỉ ra mối liên hệ giữa một số lý thuyết kinh tế học và pháp luật cạnh tranh cũng như đưa ra giải thích một số lý thuyết kinh tế học được ứng dụng trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy Từ khoá: nghiên cứu và học tập, lý thuyết kinh tế học, Luật cạnh tranh 1.
Tổng quan về Luật Cạnh tranh Luật Cạnh tranh lần đầu tiên được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, tại ky hop thứ 6 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2005. Sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004 đánh một dau mốc quan trọng trong việc tạo lập hành lang pháp lý thống nhất cho các hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đặc biệt là công cụ quan trọng dé nhà nước kiểm soát các hành vi có tinh chất phản cạnh tranh. Sau hơn 12 năm thi hành, Luật Cạnh tranh 2018 đã được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 thay thế cho Luật Cạnh tranh 2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 Nhăm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, cũng như phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế-xã hội, xu hướng hội nhập quôc tê. Luật cạnh tranh là một chuyên ngành luật mới so với các ngành luật truyền thống khác như luật dân sự, hình sự.
Trên thế giới, Ca-na-đa là quốc gia đầu tiên ban hành luật cạnh tranh (năm 1899). Tuy nhiên, khi nói đến luật cạnh tranh, người ta vẫn coi Hoa Kỳ là quốc gia khởi xướng ngành luật này với đạo luật Sherman Act (năm 1890) và Clayton Act (năm 1914), tương tự như khi nhắc đến Cộng hòa Pháp với Bộ luật Dân sự Na-pô-lê-ông (năm 1804). Các nguyên tắc, chế định trong luật cạnh tranh của Hoa Ky có ảnh hưởng it nhiều đến luật cạnh tranh của các quốc gia đi sau. Ở Châu Âu, Nhật Bản và các quốc gia khác, luật cạnh tranh được biết đến muộn hơn , chủ yếu là sau Đại chiến thế giới lần thứ II 1 Về nguyên tắc, đối tượng điều chỉnh của luật cạnh tranh là các chủ thể tiến hành các hoạt động kinh tế, theo đuổi mục dich lợi nhuận.
Đối tượng điều chỉnh của luật cạnh tranh còn có thể là các nhóm doanh nghiệp liên kết với nhau dưới hình thức hiệp hội doanh nghiệp, các nghiệp đoàn,. Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới. Trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia đều có các bộ quy tắc với mục tiêu xây dựng thé chế đảm bảo cạnh tranh bình đắng, không có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tăng cường hiệu quả, hiệu lực và tính minh bạch trong thực thi pháp luật cạnh tranh. Các quốc gia trên thế giới xác định pháp luật cạnh tranh là công cụ hữu hiệu dé Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường hoặc những tác động bat lợi của quá trình tự do hóa kinh doanh và thương mại.
Chính sách cạnh tranh và các chính sách kinh tế khác, đặc biệt chính sách công nghiệp và thương mại, chính sách điều tiết ngành có mối gắn kết và tác động chặt chẽ với nhau. Việc sử dụng hiệu quả công cụ chính sách cạnh tranh mà chủ yếu là thông qua thực thi pháp luật cạnh tranh sẽ có tác dụng tương hỗ cho các chính sách khác, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quôc gia. Mối liên hệ giữa một số lý thuyết kinh tế học cơ bản với việc nghiên cứu và học tập môn Luật cạnh tranh Luật Cạnh tranh là phương tiện được Nha nước sử dụng dé điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh trên thị trường trên cơ sở kết hợp tư duy pháp lý và tư duy kinh tế. Các quy định pháp lý về việc đánh giá sức mạnh thị trường hay kiểm soát tập trung kinh tế được xây dựng trên cơ sở các phương pháp phân tích, đánh giá về kinh tế.
Trong quá trình xử lý các vụ việc cạnh tranh, bên cạnh những quy phạm pháp luật, cơ quan cạnh tranh cũng cần phải sử dụng các phân tích, đánh giá kinh té phuc vu cho viéc danh gia vu viéc. Theo điều 51 hiến pháp 2013: “Cạnh tranh là quy luật tất yếu của kinh tế thi trường, là động lực phát triển nền kinh tế. Trong cơ chế thị trường, các chủ thê thuộc các thành phần kinh tế bình đăng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Luật và chính sách cạnh tranh có vai trò tạo lập nền tảng cơ bản cho quá trình cạnh tranh và điều tiết hoạt động cạnh tranh trong mọi ngành, lĩnh vực.
Qua thực tế cùng với sự phát triển của pháp luật cạnh tranh có thể thấy rõ răng trong nghiên cứu luật cạnh tranh thường xuyên phải sử dụng các khái niệm của kinh tế học. Phân tích kinh tế đã trở thành không thê thiếu trong khi thi hành luật cạnh tranh, thực hiện chính 2 sách cạnh tranh. Theo Kết quả điều tra của UNCTAD, các cơ quan cạnh tranh ở các nước thường sử dụng kinh tế học bao gồm cả kinh tế lượng trong xác định thị trường. Các cơ quan này cũng áp dụng kinh tế học và kinh tế lượng dé phân tích hiệu quả cạnh tranh của các vụ sáp nhập cũng như phân tích sự lạm dụng và các thỏa thuận theo chiều đọc.
Mối liên hệ giữa các lý thuyết kinh tế và luật cạnh tranh trên thế giới hiện nay đã hình thành nên trường phái kinh tế học pháp luật cạnh tranh trong đó nổi bật trên thế giới hiện này có hai trường phái đó trường phái Chicago và Trường phái Havard. Trường phái kinh tế học pháp luật cạnh tranh đã áp dụng các lý thuyết kinh tế (đặc biệt là lý thuyết kinh tế vi mô) vào phân tích luật, sử dụng các khái niệm kinh tế để giải thích ảnh hưởng của pháp luật, đánh giá những quy phạm pháp luật trên tiêu chí hiệu quả kinh tế. Cùng với sự phát triển của pháp luật cạnh tranh thì các lý thuyết kinh tế đã đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của việc thực thi pháp luật cạnh tranh. Hiện nay ở Mỹ ảnh hưởng của các lý thuyết kinh tế được thê hiện rõ nhất trong hoạt động thực tiễn chống độc quyền gồm : (i) sử dung tư duy kinh tế — thé hiện trong sự phát triển lý thuyết và thử nghiệm thực tiễn trong hoạt động chống độc quyên; (ii) sự tham gia trực tiếp của các nhà kinh tế vào tố tụng chống độc quyền và phát triển chính sách tương ứng tại các cơ quan thực thi pháp luật, tham gia như nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ kiện chống độc quyền.
Sự gắn kết và ứng dụng của kinh tế học trong nghiên cứu Luật cạnh tranh ngày càng chặt chẽ, hiện nay ở một số nước đã có riêng môn học Kinh tế học pháp luật cạnh tranh (Competition Law and Economics) hoặc Kinh tế học pháp luật chống độc quyền (Antitrust Economics). Trong các lý thuyết kinh tế thì các lý thuyết kinh tế vi mô được sử dụng rộng rãi phô biến trong nghiên cứu và thực thi luật cạnh tranh.1 Cạnh tranh và phân loại cạnh tranh Van dé đầu tiên của kinh tế học được sử dụng rộng rãi trong pháp luật cạnh tranh là cạnh tranh, bản chất của cạnh tranh và phân loại cạnh tranh. Cho đến hiện nay mặc dù có rất nhiều các nhà kinh tế đưa ra khái niệm về cạnh tranh nhưng chưa có khái niệm nào về cạnh tranh làm thỏa mãn các nhà kinh tế cũng như các chuyên gia luật.