CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHO VAY XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm Xuất khẩu lao động Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì xuất nhập khẩu lao động diễn ra một cách phổ biến do tình trạng thừa thiếu lao động giữa các nuớc cũng nhu sự chênh lệch vè thu nhập giữa các thị truờng. Tuy vậy, hoạt động xuất nhập khẩu lao động chỉ có thể diễn ra khi có sự mở cửa về thị truờng lao động.
Đối với hầu hết các nuớc thì chủ yếu là xuất khẩu lao động còn thị truờng nhập khẩu lao động chủ yếu là các nuớc phát triển. Tuy vậy, có một số nuớc đang phát triển vẫn có nhu cầu nhập khẩu lao động khá lớn, chủ yếu là để tận dụng chi phí lao động rẻ từ các nuớc kém phát triển hơn trong các ngành nghề lao động giản đơn là chính. Có thể hiểu Xuất khẩu lao động là việc một nước đưa những người trong độ tuổi lao động của nước mình đi làm việc tại nước khác với mục đích tạo thu nhập. XKLĐ là hoạt động kinh tế, là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thông qua các Doanh nghiệp đuợc cấp phép hoạt động dịch vụ đua nguời lao động đi làm việc ở nuớc ngoài duới hình thức cung ứng lao động ra nuớc ngoài theo hợp đồng có thời hạn, phục vụ cho nhu cầu nhân công lao động của doanh nghiệp nuớc ngoài Tại văn bản Luật “Nguời lao động Việt Nam đi làm việc ở nuớc ngoài theo hợp đồng” của Quốc Hội số 72/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 4 có giải thích: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định tại luật này [Điều 3].
Việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải tuân theo các quy định của Nghị định 126/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 năm 2007 thay thế cho Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của chính phủ và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập. Cho vay xuất khẩu lao động Có thể hiểu Cho vay XKLĐ là việc các NHTM cho các tổ chức, cá nhân vay vốn để xử lý các yêu cầu về tài chính gắn với các hợp đồng XKLĐ giữa người lao động với các doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động XKLĐ. Tại Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13/4/2004 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định việc cho vay xuất khẩu lao động là việc tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với người lao động, chuyên gia và tu nghiệp sinh Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Sự cần thiết của việc cho vay Xuất khẩu lao động * Đối với NHTM Cho vay XKLĐ làm phong phú thêm các sản phẩm cung cấp đến với khách hàng, đặc biệt đối với những người lao động tại các vùng nông thôn.
Sản phẩm cho vay XKLĐ đã làm đa dạng hóa thêm các dịch vụ đi kèm của Ngân hàng: như chuyển tiền từ nước ngoài của người lao động về cho người thân, dịch vụ ngoại tệ, dịch vụ thẻ, tiết kiệm. Bên cạnh lợi nhuận mang lại từ hoạt động cho vay XKLĐ và các dịch vụ của khách hàng sử dụng kèm theo. Cho vay XKLĐ cũng giúp củng cố, tăng cường uy tín, thương hiệu của NHTM. 5 * Đối với người lao động Do đại bộ phận những người XKLĐ là những người có thu nhập thấp, khả năng tích lũy bị hạn chế trong khi các hợp đồng XKLĐ luôn yêu cầu những người tham gia vào XKLĐ phải đặt cọc một số tiền nhất định, thậm chí là rất lớn; bên cạnh đó, người XKLĐ cũng phải gánh chịu một số loại phí tổn nhất định gắn với XKLĐ của mình, do vậy, việc các NHTM đứng ra xử lý các nhu cầu về vốn của những người đi lao động ở nước ngoài đã giúp họ xử lý hiệu quả các vướng mắc về tài chính.
Nói cách khác, việc vay vốn tại các NHTM là phương án tối ưu để giải quyết khó khăn về tài chính khi chưa có nguồn lực tự có của người lao động và hộ gia đình người lao động để trang trải chi phí học tập và các chi phí liên quan khác. Đói với Việt Nam căn cứ vào nhiệm vụ được giao Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN ngày 13/4/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cho phép các tổ chức tín dụng tham gia vào hoạt động cho vay đối với người lao động có nhu cầu vay vốn để nhằm mục đích trả tiền chi phí hợp pháp cho công ty được phép đưa người đi lao động nước ngoài. Người lao động có thể đến bất cứ tổ chức tín dụng nào trên địa bàn hoạt động để được tư vấn vay vốn bù đắp chi phí cho việc đi xuất khẩu lao động; trên cơ sở các chi phí hợp pháp, sẽ được các Ngân hàng cho vay bổ sung theo tỷ lệ nhất định từng Ngân hàng quy định. Đối với người lao động thuộc diện hộ chính sách, hộ nghèo, các hộ thuộc là người lao động cư trú dài hạn tại 61 huyện nghèo thì được vay ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách Xã hôi Việt Nam.
Nhà nước khuyến khích người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài chủ động tìm hiểu pháp luật có liên quan và tham gia các khoá đào tạo bồi dưỡng kiến thức cần thiết do doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, tổ chức cá nhân đầu tư ra nước ngoài đưa người lao động đi làm việc ở nước 6 ngoài tổ chức. Mặt khác, nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với người lao động, đặc biệt người lao động là đối tượng chính sách xã hội để học nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết. Ngoài các chính sách hỗ trợ nêu trên, Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm, dạy nghề hàng năm đều có các nội dung hỗ trợ đào tạo cho người lao động. Đồng thời, tại các địa phương, công tác dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được quan tâm và nhiều tỉnh, thành phố đã ban hành chính sách hỗ trợ trích từ nguồn ngân sách của địa phương.
* Đối với nền kinh tế - xã hội Lao động ở nước ta đều xuất phát từ nông thôn, nơi mà kinh tế gặp nhiều khó khăn, lao động nông nhàn nhiều, cơ hội kiếm việc làm để có thu nhập ổn định là khó đối với các lao động chưa qua đào tạo. Việc có được số tiền cần thiết để có thể đi XKLĐ là hết sức khó khăn đối với hộ gia đình trên địa bàn nông thôn, chính vì thế để có được số vốn cho người lao động đòi hỏi vai trò của các Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng là hết sức quan trọng. Vì vây, các văn bản của Nhà nước đều yêu cầu Ngân hàng nhà nước chỉ đạo hướng dẫn các tổ chức tín dụng, các Ngân hàng tham gia vào quá trình cho vay đối với người đi lao động ở nước ngoài. XKLĐ là chương trình lớn của Quốc gia, đóng góp vào việc giải quyết việc làm và cải thiện đời sống cho nhiều người dân, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước và nhiều lợi ích kinh tế khác.
Xuất phát từ một nước nghèo nàn, lạc hậu sau bao năm chiến tranh, nhiệm vụ phát triển kinh tế xây dựng đất nước trở nên cấp bách. Muốn có một nền sản xuất tốt thì cần có nguồn lao động tốt, lao động có trình độ tốt để nắm bắt được khoa học kỹ thuật hiện đại. Những lao động sau khi hết hạn trở về nước họ có tay nghề vững vàng, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có kiến thức tốt, năng lực làm việc và tính chuyên nghiệp trong lao động được nâng lên, thị trường lao động được cung ứng bởi những 7 lao động có chất lượng, được đào tạo từ các nước phát triển trở về làm việc, giúp cho hiệu quả, năng suất lao động được nâng lên. Từ việc đi XKLĐ của các lao động ở nước ngoài, nguồn tiền gửi về đã góp phần làm thay đổi diện mạo của các vùng quê nông thôn nghèo trên khắp Đất Nước.
Thu nhập, chất lượng cuộc sống của người thân trong gia đình có người đi xuất khẩu lao động được tăng lên, từ nguồn tiền gửi về của lao động; các gia đình người thân có vốn để sản xuất kinh doanh, tạo thêm thu nhập, đời sống văn hóa, tinh thần được thay đổi ngày một được nâng cao, có vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, thu hút thêm các lao động nhàn dỗi, giải quyết nhiều việc làm, mang lại thu nhập cho người lao động. Tại Việt Nam: Do hàng năm lượng lao động xuất khẩu ngày càng tăng nên lượng kiều hối gửi về nước ngày càng lớn. Cụ thể: Từ năm 2012 đến năm 2014, người lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước lượng kiều hối trung bình khoảng 2 - 2,2 tỷ USD. Từ việc đi XKLĐ của các lao động ở nước ngoài, nguồn tiền gửi về đã góp phần làm thay đổi diện mạo của các vùng quê nghèo trên khắp đất nước.
Thu nhập, chất lượng cuộc sống của người thân trong gia đình có người đi xuất khẩu lao động được tăng lên, từ nguồn tiền gửi về của lao động; các gia đình người thân có vốn để sản xuất kinh doanh, tạo thêm thu nhập, đời sống văn hóa, tinh thần được thay đổi ngày một được nâng cao. Bộ mặt kinh tế những nơi có nhiều lao động đi làm việc có sự thay đổi rõ nét; giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, bộ mặt nông thôn thay đổi rõ nét, đời sống các hộ gia đình có người thân đi lao động ở nước ngoài thay đổi theo chiều hướng tốt, các địa phương làm tốt công tác tuyên truyền cho người dân đi xuất khẩu , có nhiều người đi lao động ở nước ngoài thì kinh tế chuyển biến rõ nét, tỷ lệ giảm nghòe bền vững tăng, nguồn kiều hối trở về địa phương góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới đang được cả xã hội quan tâm. PHÁT TRIỂN CHO VAY XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.