Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHỢ VÀ CHỢ PHIÊN TRÊN ĐỊA BÀN NỘI ĐÔ HÀ NỘI 1. Chợ - những vấn đề chung 1. Chợ: khái niệm và nguồn gốc Chợ là một từ rất đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Lẽ đương nhiên cứ có dân là có chợ.
Nhắc đến chợ chắc ai cũng biết là nơi gặp nhau, giao lưu giữa những người cần bán hàng hóa và người tiêu dùng cần mua. Chợ là để lưu thông hàng hóa của thiên hạ và mở đường giao dịch cho dân. Chả thế mà ngay từ thế kỷ 15 niên hiệu Hồng Đức triều đình đã ban bố “Lệ lập chợ” [21] trong đó quy định rõ các phiên chợ, và thuế các loại hàng trong chợ. Ví như chợ xã Thịnh Liệt (Thanh Trì – Hà Nội) thì phường bán cua cá ở Yên Duyên và hàng thịt lợn phải nộp 2 quan tiền cổ, còn hàng chuối hay củ nâu chỉ phải nộp 3 hào… Trên đây là nói đến chợ xã, chợ hàng tổng hoặc chợ huyện tức là các chợ lớn.
Còn những chợ họp ở cuối thôn hay đầu bãi lúc sáng sớm hay chiều hôm (thường gọi là chợ cóc, chợ tạm.) thì không phải nộp gì cả, mà ai bán cái gì thì cho người trông chợ cái đó. Chợ giống như một xã hội thu nhỏ; ở đó tập trung mọi hạng người với biết bao mối quan hệ phức tạp. Và không biết từ bao giờ chợ đã trở thành một phần gắn bó máu thịt với từng người dân Việt Nam. Mỗi người sẽ có riêng cho mình một quan niệm khác nhau về chợ.
Vì vậy thật khó để định nghĩa chính xác và đầy đủ câu hỏi: “Chợ là gì?” Đối với kẻ bán, chợ là nơi “buôn có bạn, bán có phường”, là nơi kiếm lời. Đối với người mua, chợ là nơi cung cấp nhu yếu phẩm phục vụ sinh hoạt 7 hàng ngày; là nơi gặp gỡ hàng xóm láng giềng để thăm hỏi, chuyện trò và trao đổi kinh nghiệm sản xuất. Con gái rất thích đi chợ vì được ngắm nhìn, được mặc cả, chợ là nơi thể hiện tài nữ công gia chánh. Nhưng ngược lại, đa phần con trai (ở vùng đồng bằng) ngại đi chợ vì theo quan niệm “đi chợ là chuyện lặt vặt của đàn bà”.
Trẻ nhỏ đặc biệt thích chợ vì chợ là nơi có nhiều quà bánh, đồ chơi, có nhiều trò vui mắt. Và “chợ” trong ý nghĩ của trẻ nhỏ thời xưa là một nơi rất xa xôi mà mẹ hay bà đi chợ thì phải mang theo tiền để còn mua rau nấu cơm và mua quà về cho bé, thế nên mới có câu: “Mong như mong mẹ về chợ!”. Và chợ còn là nơi hò hẹn, là nơi tâm tình của đôi lứa để rồi nên duyên vợ chồng. Tuy nhiên, trên thực tế tùy theo lĩnh vực nghiên cứu mà có rất nhiều khái niệm khác nhau về chợ: - Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày hoặc những buổi nhất định” [24, tr.
- Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ: “Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội”. - Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ: “Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư”. - Các từ điển kinh tế quốc tế lại nhìn nhận chợ dưới góc độ thuần túy kinh tế, chợ nằm trong khái niệm “market” (tức là thị trường). Đó là: “một thị trường được tạo ra khi những người mua tiềm tàng và một phương tiện trao 8 đổi đã có sẵn.
Phương tiện trao đổi có thể là tiền mặt hay hàng đối lưu. Những hợp đồng trao đổi đạt được thông qua hoạt động của các quy luật cung và cầu” [17, tr. Theo định nghĩa này, trong thị trường phải có người bán, có hàng có người mua và một phương tiện trao đổi quy định chung. Như vậy, thị trường (market) gắn liền với sản xuất hàng hóa.
Từ những điểm hội tụ chung của nhiều định nghĩa, ta có thể rút ra kết luận: Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau. Nó hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định. Từ định nghĩa trên ta có thể tìm ra nguồn gốc xuất hiện của chợ. Chợ xuất hiện khi kết thúc thời kỳ kinh tế tự cấp tự túc, loài người biết trao đổi hàng hóa dư thừa đồng thời thỏa mãn các nhu cầu mới trong sự phát triển của xã hội mới.
Vậy ở Việt Nam chợ xuất hiện khi nào? Đây quả là một câu hỏi thật khó trả lời vì chưa có nhà khoa học nào phát hiện ra ngôi chợ cổ nhất Việt Nam, người ta chỉ có thể khoanh vùng những ngôi chợ lâu đời nằm trong các vùng đất cổ (như khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng) để nghiên cứu mà thôi. Chợ là một khoảng đất trống diễn ra các hoạt động mua bán của con người, để họp chợ rất đơn giản, không cần xây cất kiên cố như lâu đài, thành quách nên khó để lại dấu vết khảo cổ. Tuy nhiên, theo nhiều tài liệu và phương pháp nghiên cứu, các nhà khoa học cũng có thể đoán định từ cuối thời đá mới và đầu thời đồng thau, khi công cụ sản xuất được tu chỉnh đem lại nhiều nguồn thu hoạch khác nhau (như ngoài hái lượm, săn bắt là trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công) và với thu hoạch cao cùng khả năng bảo quản dự trữ khiến cộng đồng có nhiều sản phẩm thặng dư. Mặt khác, thị tộc, bộ lạc cũng cần phải có một sự quản lý có phân công xã hội, tức là có một số người 9 có năng lực chuyên môn làm công việc quản lý.
Và để phục vụ cho một tầng lớp người thoát ly sản xuất, làm những công việc chung cũng như để thỏa mãn các nhu cầu ngày một đa dạng của toàn cộng đồng, nền sản xuất hàng hóa đã manh nha ra đời. Khi đã có hàng hóa, vật phẩm thì xuất hiện nơi cố định, quy ước giữa những “người cần” và “người có” đến trao đổi, mua bán. Chợ hình thành từ đó. Còn theo các nhà khảo cổ thì xưa kia các bà nội trợ ra các nguồn nước, gặp nhau trao đổi lại vài câu chuyện và cũng mang theo những thứ của gia đình mình làm ra để đổi lấy những thứ cần thiết.
Theo thời gian nơi ấy trở thành nơi trao đổi hàng hóa – chính là nơi hình thành các chợ sơ khai. Ở Việt Nam, nếu xét theo nghĩa này thì vẫn còn các chợ rất cổ như chợ Nón làng Chuông hàng ngày vẫn nhóm họp quanh giếng làng, chợ Nậm Cắn họp ngay bên bờ suối Nậm Cắn. Đến bất kỳ nơi nào, nếu không ghé qua các chợ tức là chưa hiểu hết đời sống của người dân vùng ấy. Chính thức thành lập từ thế kỷ XI, hưng khởi rộ lên từ thế kỷ XVII trở đi, Thăng Long – Kẻ Chợ – Hà Nội đã là một thành thị lớn nhất trong cả nước (bao gồm hai phần cơ bản là Thành và Thị), một trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế có tầm vóc quốc gia.
Chúng ta không có tài liệu xác thực để được biết rõ tên gọi Kẻ Chợ đã xuất hiện lúc nào. Theo kết quả nghiên cứu của nhà sử học Nguyễn Thừa Hỷ: “… có khả năng là ở thời nhà Trần chưa xuất hiện tên gọi này, mà nó ra đời sớm nhất có thể vào thời kì Lê Sơ”. Theo Trần Kinh Hòa thì tên gọi Kẻ Chợ lần đầu tiên có mặt trong các tài liệu sách cổ phương Tây là trong cuốn Da Asia của Barros xuất bản năm 1550, trong đó có nói đến kinh đô “Cacho” của Đại Việt. Qua thế kỉ XVII thì tên gọi này, mặc dù có bị dạng đôi chút trong các tài liệu khác nhau – đã trở nên rất phổ biến trong các kẻ quê như Kẻ Sở (thôn Quán La), Kẻ Nành (xã Ninh Hiệp), Kẻ Bưởi (vùng Bưởi)… Từ “kẻ” là một từ cổ, có nghĩa tương tự như từ “làng”.
Vì vậy mới 10 có câu: “Đất lề quê thói” hay như “Đất lề Kẻ Chợ”. Người Kẻ Chợ với nền nếp văn hiến kinh kỳ thật xứng đáng với câu ví mà dân gian đã đúc kết: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Vai trò của chợ trong đời sống kinh tế - xã hội Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở Hà Nội đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô đặc biệt là từ thập niên 80 và những năm đầu của thập niên 90. Đây là giai đoạn mà mạng lưới siêu thị và trung tâm thương mại chưa hình thành và phát triển, chợ vẫn là nơi tiêu thụ hàng hóa chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất cũng như là nơi mua sắm chủ yếu của người dân.
Tuy nhiên, hiện nay chợ vẫn giữ một vai trò rất quan trọng thể hiện trên các mặt sau: - Về mặt kinh tế: Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới thương nghiệp xã hội. Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung thu gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng, lương thực thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư. Trong các phiên chợ, các buổi chợ là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá của mình, cập nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của người dân với thị trường, với thời thế và tự mình có thể ý thức được công việc làm ăn buôn bán của mình trong công cuộc đổi mới. Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề sản xuất.
Đây chính là tiền đề hội tụ các dòng người từ mọi miền đất nước tập trung để làm ăn, buôn bán. Chính quá trình này làm xuất hiện các trung tâm thương mại và không ít số đó trở thành những đô thị sầm uất. 11 - Về giải quyết việc làm: Chợ đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao động.