Luận văn: Thực hiện chính sách xử phạt vi phạm hành chính tại tỉnh An Giang

Luận văn Thạc sĩ phân tích thực trạng thực hiện chính sách xử phạt vi phạm hành chính tại An Giang, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Luận văn Thạc sĩ về xử phạt VPHC tại An Giang

Luận văn Thạc sĩ với chủ đề “Thực hiện chính sách xử phạt vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh An Giang” là một công trình nghiên cứu về xử phạt hành chính chuyên sâu, có giá trị lý luận và thực tiễn cao. Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách xử phạt vi phạm hành chính (VPHC), đồng thời phân tích sâu sắc thực tiễn thi hành tại tỉnh An Giang trong giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu chính của luận văn là xác định những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi. Các giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hoàn thiện chính sách pháp luật trong lĩnh vực này. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng, bởi xử phạt VPHC là công cụ cốt lõi để duy trì trật tự, kỷ cương xã hội và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành, kết hợp nghiên cứu định tính và phân tích số liệu thứ cấp từ báo cáo của UBND tỉnh An Giang và các sở, ngành liên quan. Công trình này không chỉ là một chuyên đề luật hành chính quan trọng mà còn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan thực thi pháp luật và những ai quan tâm đến việc áp dụng pháp luật VPHC tại địa phương. Thông qua việc phân tích chu trình chính sách công, từ hoạch định đến thực thi và đánh giá, luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về chính sách xử phạt VPHC tại An Giang.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu về xử phạt hành chính

An Giang là một tỉnh biên giới với đặc thù kinh tế - xã hội phức tạp. Tình hình vi phạm pháp luật tại An Giang, đặc biệt trong các lĩnh vực như đất đai, xây dựng, thương mại, hải quan và buôn lậu, diễn biến ngày càng phức tạp. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một cơ chế xử phạt VPHC hiệu quả để giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Luận văn chỉ ra rằng, dù đã có nhiều nỗ lực, quá trình triển khai chính sách vẫn còn bộc lộ những khó khăn, vướng mắc trong xử phạt VPHC. Việc nghiên cứu sâu về vấn đề này không chỉ giúp tháo gỡ các vướng mắc tại địa phương mà còn đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật chung của quốc gia. Đề tài này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.

1.2. Mục tiêu và phạm vi của chuyên đề luật hành chính này

Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện chính sách xử phạt VPHC tại An Giang. Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận, phân tích thực trạng xử phạt vi phạm hành chính tại An Giang giai đoạn 2016-2020, và xác định các nguyên nhân của hạn chế. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về không gian tại tỉnh An Giang, về thời gian từ năm 2016 đến 2020, và về nội dung, tập trung chủ yếu vào chính sách xử phạt VPHC, không mở rộng sang các biện pháp xử lý hành chính khác. Cách tiếp cận này giúp nghiên cứu có độ sâu và tính tập trung cao, đảm bảo các kết quả và đề xuất đưa ra có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn địa phương.

II. Khó khăn vướng mắc trong chính sách xử phạt VPHC An Giang

Việc thực thi chính sách xử phạt VPHC tại An Giang đối mặt với nhiều thách thức đặc thù. Yếu tố địa lý là một trong những trở ngại lớn nhất. An Giang có đường biên giới dài với Campuchia, nhiều đường mòn, lối mở, tạo điều kiện cho các hoạt động buôn lậu, vận chuyển hàng cấm diễn ra phức tạp. Tình hình dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo và trình độ dân trí không đồng đều cũng ảnh hưởng đến ý thức chấp hành pháp luật. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn những điểm chưa đồng bộ, gây khó khăn trong quá trình áp dụng. Luận văn chỉ rõ, các khó khăn, vướng mắc trong xử phạt VPHC không chỉ đến từ yếu tố khách quan mà còn xuất phát từ năng lực của đội ngũ cán bộ thực thi. Một số cán bộ còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, dẫn đến việc lập hồ sơ chưa chặt chẽ, áp dụng sai thẩm quyền hoặc bỏ sót hành vi. Hơn nữa, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng đôi khi chưa nhịp nhàng, gây chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra. Việc thi hành một số quyết định xử phạt, đặc biệt là các biện pháp khắc phục hậu quả, còn gặp nhiều trở ngại do đối tượng vi phạm chây ỳ, không tự nguyện chấp hành.

2.1. Phân tích các yếu tố địa phương tác động đến xử phạt

Đặc điểm vị trí địa lý, dân cư và kinh tế của An Giang tạo ra một môi trường phức tạp cho việc thực thi pháp luật. Là tỉnh biên giới, tình hình vi phạm pháp luật tại An Giang trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, buôn lậu luôn nóng. Kinh tế nông nghiệp là chủ đạo nhưng còn nhỏ lẻ, đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, dễ bị lôi kéo vào các hoạt động phi pháp. Sự đa dạng về dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer, Chăm) và tôn giáo cũng là một yếu tố cần được xem xét cẩn trọng trong quá trình quản lý nhà nước. Những đặc điểm này đòi hỏi chính sách và cách thức thực thi phải linh hoạt, phù hợp, nhưng cũng là nguồn gốc của nhiều khó khăn, vướng mắc trong xử phạt VPHC.

2.2. Vấn đề trong áp dụng Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành dù đã tạo ra một hành lang pháp lý quan trọng, nhưng trong thực tế áp dụng tại An Giang vẫn còn một số bất cập. Luận văn chỉ ra rằng một số quy định về thẩm quyền xử phạt VPHC chưa thực sự rõ ràng, dễ dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các đơn vị. Việc xác định giá trị tang vật vi phạm để làm căn cứ xử phạt đôi khi còn chậm trễ. Ngoài ra, quy trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý VPHC còn phức tạp. Những vướng mắc này đòi hỏi cần có sự hướng dẫn kịp thời từ các cơ quan trung ương cũng như các đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý VPHC để phù hợp hơn với thực tiễn.

III. Cách An Giang thực thi chính sách xử phạt VPHC 2016 2020

Giai đoạn 2016-2020, việc thực thi chính sách xử phạt VPHC tại An Giang được triển khai một cách bài bản và có hệ thống. UBND tỉnh An Giang đã ban hành các kế hoạch hàng năm để chỉ đạo, điều hành công tác này. Các kế hoạch này không chỉ vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể mà còn phân công rõ trách nhiệm cho từng sở, ngành và địa phương. Một trong những điểm sáng là công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được chú trọng. Theo luận văn, tỉnh đã tổ chức hàng nghìn cuộc tuyên truyền, phổ biến Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 và các nghị định liên quan cho cán bộ và người dân. Công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ trực tiếp làm công tác xử phạt cũng được thực hiện thường xuyên. Sự phối hợp liên ngành được tăng cường thông qua việc ban hành các quy chế, kế hoạch phối hợp, đặc biệt trong các lĩnh vực nóng như buôn lậu, an toàn thực phẩm, và xây dựng. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về xử lý VPHC cũng được tiến hành định kỳ, giúp chấn chỉnh kịp thời các sai sót và nâng cao trách nhiệm của các đơn vị. Những nỗ lực này đã góp phần đáng kể vào việc duy trì trật tự xã hội và cải thiện hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương.

3.1. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính tại An Giang qua số liệu

Số liệu thống kê trong luận văn cho thấy một bức tranh rõ nét về thực trạng xử phạt vi phạm hành chính tại An Giang. Từ năm 2016 đến 2020, các cơ quan chức năng đã phát hiện 29.710 vụ việc vi phạm và ban hành 29.698 quyết định xử phạt. Tổng số tiền phạt thu được lên đến hàng chục tỷ đồng. Các lĩnh vực có số vụ vi phạm cao nhất bao gồm trật tự an toàn giao thông, buôn lậu, gian lận thương mại, xây dựng và đất đai. Những con số này cho thấy nỗ lực lớn của các cơ quan chức năng trong việc phát hiện và xử lý vi phạm. Tuy nhiên, số quyết định chưa thi hành xong vẫn còn tồn tại, cho thấy những thách thức trong khâu cưỡng chế thi hành quyết định.

3.2. Vai trò của UBND tỉnh và Sở Tư pháp An Giang trong chỉ đạo

UBND tỉnh An Giang đóng vai trò hạt nhân trong việc chỉ đạo toàn diện công tác thi hành pháp luật về VPHC. Tỉnh đã ban hành các văn bản quan trọng như Quyết định số 30/2015/QĐ-UBND về Quy chế phối hợp. Trong đó, Sở Tư pháp An Giang được giao nhiệm vụ chủ trì, tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về công tác này. Sở Tư pháp đã tích cực tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra và tổng hợp báo cáo. Sự phân công, phối hợp chặt chẽ này đã tạo ra một cơ chế vận hành đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở, là yếu tố then chốt đảm bảo việc áp dụng pháp luật VPHC tại địa phương được thống nhất và hiệu quả.

IV. Giải pháp hoàn thiện chính sách xử phạt VPHC tại An Giang

Từ việc phân tích sâu sắc thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC áp dụng cho An Giang và có thể mở rộng ra cả nước. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý. Cần có những đề xuất cụ thể để sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý VPHC năm 2012 và các nghị định liên quan, nhằm giải quyết các bất cập về thẩm quyền xử phạt VPHC, trình tự, thủ tục và các biện pháp khắc phục hậu quả. Giải pháp thứ hai là nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức thực thi. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lập hồ sơ, đồng thời giáo dục đạo đức công vụ để ngăn chặn tiêu cực. Giải pháp thứ ba là hiện đại hóa công tác quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý VPHC, giúp việc theo dõi, thống kê và tra cứu thông tin được nhanh chóng, minh bạch. Cuối cùng, cần tăng cường sự phối hợp liên ngành và đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để đảm bảo chính sách xử phạt VPHC tại An Giang được thực thi nghiêm minh và công bằng.

4.1. Kiến nghị sửa đổi bổ sung Luật Xử lý VPHC phù hợp

Luận văn đề xuất các cơ quan trung ương nghiên cứu, xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý VPHC theo hướng cụ thể hóa một số quy định còn chung chung. Ví dụ, cần làm rõ hơn nữa về thẩm quyền của từng chức danh, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Cần đơn giản hóa một số thủ tục hành chính không cần thiết để rút ngắn thời gian ra quyết định xử phạt, tránh tình trạng hết thời hiệu. Đồng thời, cần bổ sung các quy định về việc áp dụng công nghệ trong việc phát hiện và xử lý vi phạm, chẳng hạn như hệ thống camera giám sát. Những điều chỉnh này sẽ giúp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong xử phạt VPHC mà An Giang và nhiều địa phương khác đang gặp phải.

4.2. Tối ưu hóa thẩm quyền và biện pháp khắc phục hậu quả

Một trong những giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt VPHC là rà soát và tối ưu hóa hệ thống thẩm quyền xử phạt VPHC. Cần phân định rõ ràng hơn giữa các lực lượng chức năng để tránh chồng chéo. Đối với các biện pháp khắc phục hậu quả, luận văn kiến nghị cần có cơ chế giám sát và cưỡng chế thi hành hiệu quả hơn. Thay vì chỉ ra quyết định, cần có các bước theo dõi, đôn đốc và áp dụng các biện pháp mạnh mẽ đối với các trường hợp không chấp hành. Điều này không chỉ khôi phục lại trật tự ban đầu mà còn tăng tính răn đe của pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách xử phạt vi phạm hành chính tại tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1. Vi phạm hành chính và chính sách xử phạt vi phạm hành chính 1. Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính 1. Vi phạm hành chính[A1] Trong thực tế đời sống xã hội, các vi phạm pháp luật diễn ra thường xuyên, phổ biến, đa dạng trên tất cả các lĩnh vực quản lý của nhà nước.

Căn cứ vào khách thể bị xâm phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, khoa học pháp lý phân chia vi phạm pháp luật thành 04 loại: vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm kỷ luật và vi phạm pháp luật dân sự. Trong quy định của pháp luật, thuật ngữ vi phạm hành chính lần đầu tiên được giải thích ở Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Theo đó: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính". Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 không giải thích thuật ngữ vi phạm hành chính trực tiếp mà quy định một cách gián tiếp thông qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính”.

Khái niệm vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, theo đó "Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính".[14] 7 Khái niệm về vi phạm hành chính trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản, đó là tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái pháp luật hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Cũng như các loại vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính được cấu thành bởi 4 yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể [38]. Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, bao gồm các yếu tố[A2]: Thứ nhất, hành vi trái pháp luật hành chính. Hành vi trái pháp luật hành chính được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện).

Nếu không có hành vi trái pháp luật hành chính của chủ thể thì không thể có cấu thành vi phạm hành chính [38]. Thứ hai, hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội). Hành vi trái pháp luật hành chính ở những mức độ khác nhau đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thể gây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính được đánh giá, xác định thông qua mức độ thiệt hại trên thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra [38].

Thứ ba, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra. Điều này thể hiện ở chỗ, sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hành chính, do chính hành vi trái pháp luật hành chính gây ra. Trong một vi phạm hành chính cụ thể chủ thể chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi gây ra những thiệt hại trên thực tế. Trong những trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả là điều hết sức cần thiết để khẳng định có vi phạm hành chính hay không [38].

8 Thứ tư, các yếu tố thời gian thực hiện vi phạm hành chính; địa điểm thực hiện vi phạm hành chính; phương thức, thủ đoạn thực hiện vi phạm hành chính; công cụ, phương tiện dùng để thực hiện vi phạm hành chính… [38] Trong các yếu tố nêu trên, thì hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt khách quan của vi phạm hành chính; các yếu tố còn lại có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính. Mặt chủ quan của vi phạm hành chính: là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi, bao gồm các yếu tố[A3]: Thứ nhất, yếu tố lỗi của chủ thể vi phạm. Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi vi phạm của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [38].

Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ chủ thể nhận thức được tính chất nguy hại của hành vi, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn cố tình thực hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [38]. Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể không nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy ra [38]. Thứ hai, yếu tố mục đích. Mục đích là cái “mốc”, là kết quả cuối cùng trong suy nghĩ mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm.

Mục đích vi phạm cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi. Trong các yếu tố nêu trên, thì lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính; yếu tố mục đích có thể có hoặc có thể không, tùy thuộc vào từng loại vi phạm hành chính. Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật quy định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc phải có [38]. 9 Chủ thể vi phạm hành chính: là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính.

Đối với cá nhân phải là người đạt độ tuổi nhất định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Nếu không đủ căn cứ cho rằng chủ thể thực hiện hành vi có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì có thể kết luận không có vi phạm hành chính xảy ra [38]. Đối với tổ chức gồm: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật. Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước [38].

Khách thể vi phạm hành chính[A4]: là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại. Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ [28]. Trong khoa học pháp lý, dựa vào các dấu hiệu cấu thành chúng ta có thể phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm nhưng trong thực tế ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm khó xác định. Nếu không giải quyết đúng đắn vấn đề này thì dẫn đến việc áp dụng pháp luật để xử lý hành vi vi phạm không chính xác.

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác xử lý vi phạm hành chính, việc phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm dựa vào các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính và tội phạm, cụ thể[A5] [36]: Thứ nhất, mặt khách quan: Xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi: Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm hình sự (đây là dấu hiệu cơ bản nhất). 10 Các căn cứ đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm bao gồm: Về mức độ thiệt hại: Đối với một số loại tội phạm, Bộ luật hình sự quy định mức độ gây thiệt hại cho xã hội của hành vi. Mức độ gây thiệt hại biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như: Giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ thương tật… Căn cứ vào các dấu hiệu này, có thể phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm. Ví dụ: Đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả trị giá từ 20.000 trở lên tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 192 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); nếu tài sản có giá trị dưới 20.000 đồng (ít nghiêm trọng hơn) thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 9, Điều 10 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Về số lần vi phạm: Nhiều trường hợp bị coi là tội phạm khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi đã thực hiện (hoặc các hành vi khác có tính chất tương tự). Trong những trường hợp này, nếu chỉ đánh giá về mặt hành vi thì khó xác định một cách chính xác đó là tội phạm hay vi phạm hành chính mà phải căn cứ vào dấu hiệu số lần thực hiện hành vi vi phạm. Về công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm: Đây cũng được coi là căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ