phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách văn hóa Chƣơng 2. Thực trạng việc thực hiện chính sách văn hóa trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện chính sách văn hóa trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định thời gian đến.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VĂN HÓA 1. VĂN HÓA VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VĂN HÓA 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một vấn đề hết sức phức tạp, đƣợc nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu.
Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học ngƣời Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Tùy theo hƣớng tiếp cận khác nhau mà mỗi ngành khoa học, thậm chí mỗi nhà khoa học có thể đƣa ra định nghĩa về văn hóa theo cách hiểu của mình. Theo cách tiếp cận về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa đƣợc bắt nguồn từ chữ La tinh "Cultus" mà nghĩa gốc là gieo trồng, đƣợc dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng đất" và Cultus Animi là "gieo trồng tinh thần" tức là "sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người". Theo nhà triết học Anh Thomas Hobbes (1588–1679): "Lao động dành cho đất gọi là sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trồng tinh thần".
Theo cách tiếp cận miêu tả: định nghĩa văn hóa theo những gì mà văn hóa bao hàm, chẳng hạn nhà nhân loại học ngƣời Anh Edward Burnett Tylor (1832–1917) đã định nghĩa văn hóa nhƣ sau: văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội.[27] Theo cách tiếp cận lịch sử: nhà nhân loại học, ngôn ngữ học ngƣời MỹEdward Sapir (1884–1939) cho rằng: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu 9 cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống [28] Theo cách tiếp cận chuẩn mực: nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, chẳng hạn William Isaac Thomas (1863–1947), nhà xã hội học ngƣời Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử,.11] Theo cách tiếp cận tâm lý học: nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trƣờng, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con ngƣời. Một trong những cách định nghĩa nhƣ vậy của William Graham Sumner (1840–1910), viện sĩ Mỹ, giáo sƣ Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông là: Tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh. Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa [29; tr.11,12] Theo cách tiếp cận cấu trúc: chú trọng khía cạnh tổ chức cấu trúc của văn hóa, ví dụ Ralph Linton (1893–1953), nhà nhân loại học ngƣời Mỹ định nghĩa: a. Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; b.
Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa.12] Theo cách tiếp cận nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889–1968), nhà xã hội học ngƣời Mỹ gốc Nga, ngƣời sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau.12] Năm 2002, UNESCO đã đƣa ra định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm 10 hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. [26] Theo quan điểm của Chính phủ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh íế - xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội; bảo đảm yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế; thích ứng với xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các công nghệ mới, hiện đại và biến đổi kinh tế - xã hội, con người do tác động của thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng” [22] Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con ngƣời tạo ra. Khái niệm chính sách Cuốn Từ điển Hán Việt dành cho học sinh đƣa ra giải nghĩa phổ thông về từ chính sách “Chính sách: Sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”[25; tr.
Tiếp cận dƣới góc nhìn chính trị, Từ điển bách khoa Việt Nam lý giải: “Chính sách, những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ; chính sách đƣợc thƣc hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, 11 xã hội… Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phƣơng hƣớng đƣợc xác định trong đƣờng lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể”.475] - “Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo sự ƣu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội” [22; tr. 13] - Nhƣ vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy: + Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra; + Chính sách đƣợc ban hành căn cứ vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế; + Chính sách đƣợc ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó; chính sách đƣợc ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Khái niệm chính sách công và chính sách văn hóa Khái niệm chính sách đƣợc đề cập trong nội dung luận văn đƣợc nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa đó chính là chính sách công: Chính sách công là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong khoa học chính trị và trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày.
Những quan niệm đầu tiên về chính sách công xuất hiện cùmg với sự ra đời của nền dân chủ Hy Lạp và nhà nƣớc. Nhà nƣớc có vai trò quản trị (quản lý) và vai trò xã hội quan trọng. Để thực hiện các vai trò, chức năng này nhà nƣớc ban hành chính sách công với tính chất là một công cụ hữu hiệu để nhà nƣớc quản trị (quản lý) và tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội, phát triển. Với nghĩa rộng hơn: chính sách công là chính sách của nhà nƣớc, là kết quả cụ thể hóa chủ trƣơng, đƣờng lối của đảnq cầm quyền thành các quyết định, tập hợp 12 các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nƣớc, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ ngƣời dan.
Do đó chính sách công có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quản trị quốc gia Theo đại từ điển bách khoa Việt Nam vi.org Định nghĩa: Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền. Nhƣ vậy có thể hiểu chính sách công là chính sách của nhà nƣớc đối với khu vực công cộng, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nƣớc và chế độ chính trị trong đó nhà nƣớc tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân. Chính sách công thể hiện ý chí chính trị của đảng cầm quyền, đƣợc thể hiện cụ thể là các quyết sách, quyết định chính trị của nhà nƣớc. Các quyết định này nhằm duy trì tình trạng xã hội hoặc giải quyết các vấn để xã hội, đáp ứng nhu cầu của ngƣời dân.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã quan tâm tới vấn đề phát triển văn hóa ở các quốc gia.