Chương 1 CHÍNH SÁCH VĂN HÓA CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM VỀ VĂN HÓA VÀ CHÍNH SÁCH VĂN HÓA 1. Khái niệm văn hóa Trong thực tiễn cũng như trong từng lĩnh vực nghiên cứu, khái niệm văn hóa được hiểu theo nhiều cách, với các định nghĩa khác nhau. Pufendor – nhà khoa học Đức, được coi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ văn hóa đã cho rằng: “ Văn hóa là toàn bộ những gì được tạo ra cho hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên.
Theo ý tưởng đó, Herder (1744 – 1803), nhà triết học Đức, cũng cho rằng: “Văn hóa là sự hình thành lần thứ hai của con người. Nghĩa là, lần thứ nhất, con người xuất hiện với tư cách là một thực thể tự nhiên, đến lần thứ hai, con người hình thành và phát triển với tư cách là một thực thể xã hội, tức là hướng đến một nhân cách văn hóa”. Tylor – người có công đầu khẳng định văn hóa như một ngành khoa học, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa, hay văn minh nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [71]. Như vậy, ngay từ đầu văn hóa được quan niệm bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, có quá trình phát triển lâu dài và gắn bó với các hoạt động xây dựng đời sống của con người và xã hội.
Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO. Đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội 9 hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.” Cựu Tổng Giám đốc UNESCO Giáo sư Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình".
Nhiều nhà văn hóa Việt nam cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh xem văn hóa tức là những sinh hoạt hàng ngày của con người, trong đó gồm có hoạt động kinh tế, xã hội và tri thức… Trần Quốc Vượng dẫn theo cách hiểu của Nguyễn Từ Chi, nhìn văn hóa từ góc rộng. Theo cách ấy thì văn hóa là toàn bộ cuộc sống, là nếp sống, lối sống về vật chất và tinh thần của từng cộng đồng [76]. Vào ngày 06/08/1982, Hội nghị thế giới về “Chính sách văn hóa và sự phát triển” đã thông qua tuyên bố Mêhicô, xác định: “Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội.
nó không chỉ bao gồm nghệ thuật văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”. 10 Sau nhiều năm vận dụng theo nhiều hướng, theo các cách tiếp cận khác nhau đến những năm cuối của thế kỷ XX, cách hiểu phổ biến được đồng tình nhất là quan niệm coi văn hóa bao gồm tất cả những gì là cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động. Mặc dù có những định nghĩa khác nhau, nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất phân chia văn hóa thành hai dạng khác nhau: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: - Văn hóa vật chất: Là những sản phẩm do con người tạo ra bằng lao động trí tuệ và lao động chân tay. Những sản phẩm ấy hiện hữu bằng các dạng vật chất cụ thể, hữu hình và có thể cảm nhận, nhận thức được bằng các giác quan.
Đó là những vật dụng phục vụ cho cuộc sống, phát triển của cá nhân và cộng đồng từ ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp, nghỉ ngơi… Văn hóa vật chất là minh chứng cho trình độ của các nền sản xuất, phương thức sản xuất và quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên… Trong văn hóa vật chất luôn chứa đựng ý nghĩa của văn hóa tinh thần. - Văn hóa tinh thần Đó là toàn bộ những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, lối sống, những quy tắc ứng xử, văn học nghệ thuật… được sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ trong quá trình ứng xử của con người với môi trường xung quanh và với chính mình. Ở góc độ nhận thức và sáng tạo, các giá trị văn hóa tinh thần là năng lực vô cùng to lớn của xã hội, tạo ra các lực lượng sản xuất vật chất giải quyết các nhu cầu đời sống, là chìa khóa của sự phát triển. Ngoài ra, nó còn là nền tảng tinh thần xã hội, là động lực thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, việc phân chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần 11 chỉ mang tính chất tương đối, vì trong thực tế không có sự phân biệt rõ ràng. Trong nhiều trường hợp, văn hóa tinh thần được biểu hiện dưới dạng vật chất và ngược lại văn hóa vật chất nào cũng mang những dấu hiệu về những giá trị tinh thần, thường thì hai dạng văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần luôn gắn quyện với nhau. Khi xem xét văn hóa trong một giai đoạn cụ thể của đời sống xã hội, bao gồm nhiều lĩnh vực có quan hệ chặt chẽ với nhau, thì văn hóa là một trong các lĩnh vực chính, giữ vị trí rất quan trọng. cùng với kinh tế, chính trị… văn hóa tạo nên diện mạo, trình độ, chất lượng và đặc điểm của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Với cách tiếp cận như trên thì văn hóa bao gồm cả giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ và văn hóa nghệ thuật. Đồng thời, mặc dù có những đặc trưng riêng nhưng công tác tư tưởng cũng nằm trong phạm trù văn hóa, là một bộ phận quan trọng, đồng thời là hạt nhân của toàn bộ hoạt động văn hóa mang ý nghĩa xã hội và nhân văn. Trong văn hóa, nhân tố hàng đầu là sự hiểu biết, sự hiểu biết hay còn gọi là nhận thức được đo bằng trình độ học vấn, kinh nghiệm tích lũy qua quá trình phát triển của các thành viên trong cộng đồng. Văn hóa được hình thành khi sự hiểu biết được sử dụng làm nền tảng và định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn, hành động của mỗi dân tộc, trong mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và xã hội, giữa con người trong đời sống xã hội và con người của chính bản thân mình.
Theo cách hiểu hẹp hơn và được sử dụng thông thường, khi tách giáo dục, khoa học ra thành các ngành, các lĩnh vực hoạt động có đặc trưng riêng, văn hóa còn được coi chủ yếu là các loại hình hoạt động cụ thể của ngành văn hóa như bảo tồn, bảo tàng, thư viện, xuất bản, báo chí, đời sống văn hóa cơ sở, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội… và các loại hình sáng tạo như văn học, nghệ thuật. 12 Trong đề tài này, tác giả sử dụng cách hiểu của văn hóa vừa theo nghĩa rộng để phân tích bản chất của việc xây dựng đời sống văn hóa bao trùm toàn bộ hoạt động của con người trong quá trình phát triển; mặt khác đề tài cũng phân tích theo những nghĩa hẹp để khu biệt các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân. Khái niệm chính sách văn hóa Ngày nay, sự phát triển của một quốc gia không chỉ được thể hiện ở những chỉ báo trong lĩnh vực kinh tế, mà còn ở tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Ở nhiều quốc gia (nổi bật là Trung Quốc và Hàn Quốc), khi văn hóa phát triển và đã trở thành một lực lượng vật chất thì nó không chỉ nâng cao đời sống tinh thần của người dân trong nước mà nó còn thực sự trở thành “người lính tiên phong” cho các tập đoàn kinh tế trong quá trình mở mang, xâm nhập thị trường quốc tế và đến lượt nó, những lợi nhuận kinh tế ấy sẽ tác động đến sự phát triển của nền văn hóa quốc nội.
Chúng ta đã rất quen thuộc với những câu chữ như “văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực”, tuy nhiên, dường như quan điểm trên vẫn chưa được cụ thể hóa, hiện thực hóa hiệu quả trong đời sống xã hội. Ở đây có sự chậm trễ trong sự cải cách và hoàn thiện chính sách văn hóa. Theo cách quan niệm của UNESCO thì "chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa". Như vậy, cấu trúc của chính sách văn hóa phải bao gồm những thành tố sau: Mục tiêu: thường được thể hiện trước hết ở chủ trương, đường lối của Đảng, được thể chế hóa ở những văn bản pháp quy ở cấp lãnh đạo Nhà nước cao nhất (Quốc hội, Chính phủ).
13 Hệ thống thể chế tương ứng (Các chương trình quốc gia về văn hóa, các biện pháp chế tài cũng như pháp luật, cơ chế truyền thông… để những chủ trương trên có thể vận hành vào đời sống.) Các cơ cấu và tổ chức xã hội tương ứng.