CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI CỰU CHIẾN BINH 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm ưu đãi xã hội “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” luôn là một truyền thống đạo lí đẹp của văn hóa Việt. Đạo lí này được thể hiện rất phong phú trong đời sống của người Việt Nam.
Một trong những biểu hiện của nó là công tác ưu đãi xã hội. Ở nước ta, chính sách ưu đãi xã hội xuất hiện từ thời kỳ phong kiến. Nếu như trong thời kỳ phong kiến chính sách ưu đãi xã hội có đối tượng là: Vua, quan, tướng sĩ, quân nhân với hình thức đơn giản là ban thưởng, thăng chức thì khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời ngày 02/9/1945 đến nay các đối tượng hưởng ưu đãi xã hội có sự thay đổi. Điều này được thể hiện qua hàng loạt văn bản quy định cụ thể đối tượng và chế độ ưu đãi.
Khi nói về ưu đãi xã hội, Nguyễn Thị Kim Phụng và nhóm tác giả trong giáo trình Luật an sinh xã hội cho rằng: “Ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với những người có công và gia đình họ” [27, tr. Theo chúng tôi, ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ nhằm ghi nhớ công ơn của họ đối với đất nước. Khái niệm chính sách ưu đãi xã hội Với tinh thần trọng nghĩa tình, bù đắp và sẻ chia, sống có trước có sau, có thủy có chung, sống biết ơn và nhớ ơn của người Việt Nam qua bao thế hệ, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm sâu sắc đến việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội. Nó góp phần làm nên hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam, đem lại ổn định và phát triển cho xã hội.
Thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công là việc làm có ý nghĩa quan trọng. Nó thể hiện đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đồng thời góp 10 Luan van phần làm ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho người có công, giúp học yên tâm tin tưởng hơn vào cuộc sống, vào chính sách. Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công còn có tác dụng giáo dục, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Nhìn vào sự biết ơn và ghi nhận công lao đối với người có công của Đảng và Nhà nước, thế hệ trẻ lấy đó làm tấm gương để soi rọi lại mình và tăng thêm ý thức, tinh thần hi sinh vì cộng động, vì tập thể, vì cái chung để cảm thấy xứng đáng hơn với những hi sinh của thế hệ trước.
Đồng thời thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công còn là sự xoa dịu những nỗi đau, những mất mát lớn lao mà những người có công đã cống hiến, đã hi sinh. Do đó, chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần tạo ra môi trường lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi người công dân trong xã hội. Theo chúng tôi, chính sách ưu đãi xã hội là các quy định của Nhà nước về chính sách đối với người có công và thân nhân của họ trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế- xã hội. Khái niệm Cựu chiến binh Theo Điều 2, Pháp lệnh số 27/2005/PL-UBTVQH11, ngày 07 tháng 10 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: “Cựu chiến binh là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, bao gồm: 1.
Cán bộ, chiến sĩ đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng tháng Tám năm 1945; 2. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế; 3. Cán bộ, chiến sĩ, dân quân, tự vệ, du kích, đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc; 4. Công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc; 5.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, dân quân, tự vệ đã tham gia 11 Luan van chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Từ Pháp lệnh trên, ngày 12 tháng 12 năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh. Trong Điều 2 của Nghị định này quy định như sau: “Điều 2. Cựu chiến binh Cựu chiến binh theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã tham gia đơn vị vũ trang chiến đấu chống ngoại xâm giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên, xuất ngũ, cụ thể như sau: 1. Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh đã tham gia các đơn vị vũ trang do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức trước cách mạng Tháng 8 năm 1945 như Đội tự vệ đỏ, du kích Ba Tơ, du kích Bắc Sơn, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân và các đơn vị vũ trang khác do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.
Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh gồm sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, biệt động đã tham gia kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước (ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng). Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc quy định tại khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh gồm: a) Đội viên đội công tác vũ trang trong vùng địch tạm chiếm ở miền Bắc từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 về trước (ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương); b) Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Bắc từ ngày 27 tháng 01 năm 1973 trở về trước (ngày ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc); c) Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Nam từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước. Công nhân viên quốc phòng quy định tại khoản 4 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu chống ngoại xâm từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 về trước. Cán bộ, chiến sĩ quy định tại khoản 5 Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh gồm: a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ đã tham gia chiến đấu, làm nhiệm vụ quốc tế, trực tiếp phục vụ chiến đấu trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã phục viên, nghỉ hưu, chuyển ngành.
Những đối tượng quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Cựu chiến binh và được cụ thể tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 2 của Nghị định này không được công nhận là Cựu chiến binh trong các trường hợp sau: a) Người đầu hàng địch; phản bội; người vi phạm kỷ luật bị tước danh hiệu quân nhân; công nhân viên quốc phòng bị kỷ luật buộc thôi việc; b) Người bị kết án tù mà chưa được xoá án tích. Việc xác nhận cựu chiến binh: a) Việc xác nhận Cựu chiến binh được căn cứ vào hồ sơ khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ tại ngũ, xuất ngũ, phục viên, nghỉ hưu tại địa phương, do cơ quan quân sự xã, phường, thị trấn nơi Cựu chiến binh đang cư trú chủ trì, phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp xác nhận; b) Trường hợp hồ sơ bị thất lạc, việc xác nhận là Cựu chiến binh do cơ quan quân sự cấp xã nơi họ nhập ngũ phối hợp với Hội Cựu chiến binh cùng cấp xem xét xác minh lời khai của họ và lập danh sách để Ủy ban nhân dân nơi họ nhập ngũ xác nhận; c) Việc xác nhận là Cựu chiến binh trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị căn cứ vào hồ sơ khi tiếp nhận Cựu chiến binh về cơ quan, tổ chức, đơn vị và do cơ quan, tổ chức, đơn vị đó xác nhận. Việc kết nạp hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam thực hiện theo quy 13 Luan van định của Điều lệ Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hướng dẫn của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.” Ngày 24 tháng 11 năm 2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 157/2016/NĐ- CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006. Tại khoản 1, Điều 1 của Nghị định 157/2016/NĐ-CP quy định như sau: “Điều 1.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 150/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh Cựu chiến binh 1. Bổ sung Điều 2 như sau: a) Bổ sung vào điểm b, điểm c khoản 3 Điều 2: “b) Cán bộ, chiến sĩ dân quân, tự vệ, du kích tập trung ở miền Bắc từ ngày 27 tháng 01 năm 1973 trở về trước (ngày ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc), đã tham gia chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu ở đơn vị tập trung theo quyết định thành lập hoặc giao nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.